Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng

31 thg 8, 2014

Leo núi Bạch Mã




Dân Huế đi làm ăn xa, hè năm nào cũng về nghỉ ở Huế cả tháng rứa mà chưa lên Bạch Mã một lần. Thật là quê. Biết tâm sự đó, tiểu muội âm thầm lên kế hoạch. Một chiều thứ bảy có một tin nhắn:
"Sáng mai 6h30 có mặt ở 1A Hùng Vương nhé"
Tin nhắn sắc, gọn như một mệnh lệnh, nhưng lòng ta reo lên.
Theo lệnh tiểu muội, sáng nay ta mang giày vải lên đường. Qua 1A Hùng Vương đúng 6:30 dù có chút trục trặc. Là như ri: Xe chú em mà ta quá giang bị xẹp lốp khi mới đến hồ Tịnh. Ngó đồng hồ: 6:05. Còn sớm, không có răng mô. Ta ung dung ghé quán bên đường ăn tô bún chả cua. Xong đến góc đường hỏi “Đây có ai chạy xe thồ (trong Nam gọi là xe ôm) không hè?”. Người đàn ông đang phụ vợ bán bánh canh lấy honda ra giúp kẻ cơ nhỡ mà cũng để kiếm thêm chút cháo. Qua hết “sáu vài, mười hai nhịp” cầu Tràng Tiền, ta đi tới đi lui tìm văn phòng du lịch Bạch Mã, Phong Nha, rồi ngồi chờ. Lát sau tiểu muội đến. 7:30 mới khởi hành. Cùng ngồi tám chuyện với hướng dẫn viên du lịch. Ngồi tám chuyện với hướng dẫn viên du lịch thật thú vị, tha hồ mà tưởng tượng, mà hăm hở (e còn thú hơn lúc thiệt sự đi leo núi nữa chớ).
Đang say sưa du lịch tưởng tượng thì xe đến. Một chút bất bình vì chuyến leo-núi-ảo bị cắt ngang. Ra xe. Núi Bạch Mã cách Huế 40 km về phía Nam. Một tiếng sau thì đến chân núi. Xe leo lên con đường núi dốc cao, qua những khúc quẹo “khủy tay” hiếm hoi làm nhớ đèo Hải Vân dạo chưa có đường hầm, nhớ đèo Ngoạn Mục xưa kia. Hồi hộp. Rồi bật ra tiếng khen: Tay lái lụa! Đây, đã đến cổng “Vườn Quốc Gia Bạch Mã”. Hành trình leo núi bắt đầu.



Trước mắt là rừng núi bạt ngàn. Ta mê mải ngắm nhìn những cây rừng nguyên sinh rậm rạp, hoang sơ. 



Lộ trình leo núi đây nì:
Từ bãi đỗ xe, du khách băng rừng, lội suối(vạch đứt, mờ) khám phá Ngũ Hồ, bãi tắm suối Đỗ Quyên, (đỉnh thác Đỗ Quyên), rồi quay về đường cũ, lên Hải Vọng Đài .


Leo núi Bạch Mã là cuốc bộ lên những con dốc cao, là luồn rừng, lội suối lần lượt đi qua những hồ nước dọc theo con suối. Năm cái hồ tất cả, gọi là Ngũ Hồ. (địa danh nghe rất hấp dẫn, gợi liên tưởng đến “Ngũ Hồ, Động Đình Hồ bên Tàu). Phần lớn lộ trình là khá cheo leo. Hướng dẫn viên nhắc mãi: Đường đi nguy hiểm, hãy cẩn thận! Du khách bám chặt sợi dây thừng căng dọc theo bờ suối, lần từng bước chân trên những hòn đá đủ dạng, có khi đầy rêu, bờ nhiều đoạn dựng vách thành, bên dưới là dòng suối sâu.
Một trong Ngũ Hồ: 







Trưa đến thác Đỗ Quyên dừng nghỉ, ăn trưa. Ăn trưa lúc bụng đói sau buổi sáng đi rừng, trong khí hậu mát mẻ của vùng núi cao (thấp hơn từ 7 đến 10 độ so với Huế), cơm của hãng du lịch lại càng ngon miệng hơn.
Ăn xong thì đi bộ trở về lại bãi đỗ xe, từ đó cuốc bộ lên Hải Vọng Đài. Đường về trời mưa.


 Đường đi khó khăn hơn nhưng ta nói: “Thế mới là trải nghiệm về Bạch Mã, biết thế nào mưa rừng”. Câu nói không hay ho chi nhưng lên tinh thần cho mọi người và …cho ta. Đến trạm dừng, nghỉ mươi phút, đủ để cởi đôi giày sũng nước, xem có vắt bám chân không, vắt ráo đôi vớ rồi…mang vào lại, xong tiếp tục hành trình. Đến Hải Vọng Đài đường đi dễ nhưng vì quần, giày đang ướt sũng nên rất khó chịu. Mất hơn 15 phút thì đến Hải Vọng Đài, tức là đến đỉnh núi Bạch Mã.
Oh, Yeah! Rứa là ta đã chinh phục đỉnh núi cao 1.450 m


Tìm góc thích hợp để “hải vọng”,
chỉ thấy mây mờ và thấp thoáng những dãy núi xanh mờ xa,



lúc trời hén nắng thì nhìn được bán đảo có hình đầu rùa, thật đẹp.




Trên Hải Vọng Đài vắng vẻ bỗng nghe tiếng chuông vang ngân, tưởng có ngôi chùa mô đó, ngó quanh, té ra tiểu muội vừa giộng dùi chuông vào cái chuông lớn đàng trước Hải Vọng Đài. Nhìn tiểu muội (sắp lên chức bà nội) cười vui như trẻ thơ, ta nghĩ: đến với thiên nhiên người ta trẻ lại, trông o cứ như tuổi mười lăm. Hải Vọng Đài có cặp ngựa trắng đứng song song hai bên lối lên đài. Cậm hèng chi người ta gọi là núi Bạch Mã (đúng hơn phải nghĩ ngược lại: người ta dựng cặp ngựa trắng này để tô điểm cho cái địa danh lừng lẫy : núi Bạch Mã).
15 giờ. Về.
Ngẫm khi qua Ngũ Hồ: Cái tên “Ngũ Hồ” gợi liên tưởng Cửu Giang, Ngũ Hồ, Động Đình Hồ bên Tàu, ai dè ở đây chỉ là những cái hố, vũng nước nhỏ (đường kính cợ 10 m) của con suối. Có người tả là "duyên dáng". (Như Dalat với những cái tên thơ mộng : Đồi Mộng Mơ, thung lũng Vàng, thung lũng tình yêu,…đã làm háo hức bao nhiêu khách du “tìm đến “thành phố mộng mơ”rứa đó). Tuy nhiên, theo thiển ý của tui, Dalat, chỉ thành phố Dalat không thôi cũng đủ làm du khách mãn nguyện. Còn núi Bạch Mã thì điều làm khách du hài lòng là một chuyến băng rừng, vượt suối “mỏi gối kéo lê đôi giày”. Về nhà, mỏi rã rời một cách thú vị, và...ngủ một giấc thật ngon. Cũng đáng tiền!
(Một trong Ngũ Hồ)

è Triết lý xanh rờn: Người đời thường hay bị mê hoặc bởi những danh từ mỹ miều.
Bài học rút ra: Trước những cái tên mỹ miều, (ví dụ…), hãy tạm dừng bước, thận trọng xem & xét, rồi...nhào vô may nhờ rủi chịu! he he…

thanhdalat

30/8/14

24 thg 8, 2013

Một thoáng Huế, hè 2013 (2)

Xem MỘT THOÁNG HUẾ, HÈ 2013 (1) theo đường dẫn sau :

Bánh bèo



Hồ Tịnh, là tiếng chúng tôi thường gọi hồ Tịnh Tâm, cách nhà tui chưa đến 200 m, trên đường ra phố tui thường đi qua nơi này. Hồ Tịnh vốn là khu thượng uyển nổi tiếng hàng đầu của vương triều Nguyễn.
Một nhà báo đã viết:

“Với kiểu kiến trúc cầu kỳ, nhưng hết sức hài hòa với tự nhiên, hồ Tịnh Tâm được xem là một thành tựu tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc cảnh quan Việt Nam thế kỷ 19. Cảnh đẹp của hồ đã tạo nguồn thi hứng và trở thành đề tài cho nhiều bài thơ, chùm thơ nổi tiếng của các vua Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... Và đặc biệt, trong chùm thơ ca ngợi 20 cảnh đẹp đất Thần kinh của vua Thiệu Trị đã xếp hồ Tịnh Tâm là cảnh đẹp thứ 3, cho in bài thơ “Tịnh hồ hạ hứng” cùng với phong cảnh hồ vào tranh gương để treo ở các cung điện”. (Chạnh buồn bên hồ Tịnh Tâm, Bùi Ngọc Long)


Một thắng cảnh như rứa mà hại thay, sự trùng tu, tôn tạo lại diễn ra quá chậm, đên nay qua hồ Tịnh tui vẫn còn thấy hoang sơ, xơ xác. 
Hồ sen xưa nay trồng rau muống
Lầu bát giác được làm lại, lợp tôn, kích thước nhỏ và thấp hơn.
Ven hồ có một nhà hàng treo một bảng hiệu như ri:
Thoạt nhìn tưởng là đôi câu đối theo kiểu xưa, nhưng đọc kỹ hơn thì hai câu đối chẳng chỉnh chút mô về ý cũng như về luật. Đúng là “đũa mốc mà chòi mâm son”. Cái đặc sản ẩm thực nhậu nhẹt kéo cái di sản văn hóa xuống  chỗ  phàm tục một cách phũ phàng!
Không vào quán “đặc sản” dê nhưng dường như cái mùi phàm tục ấy vẫn ám ảnh chúng tôi thêm một đoạn đường dài. Chúng tôi quyết định quên cái “câu đối”  ấy bằng cách tìm ăn món quà đặc Huế: Bánh bèo cung An Định. Cung An Định (tư dinh của bà Từ Cung Thái Hậu - mẹ Vua Bảo Đại) nằm ở phía nam Huế.  Nàng chở tui qua cầu Tràng Tiền. Lúc dừng chờ đèn xanh, tui nhìn lên khoảng trời trước mặt:
-Núi Ngự Bình mô không chộ Xanh ơi!
-Anh ni vui rứa thê! Núi Ngự Bình ở phía tê tề, mà đứng đây bị nhà cửa che làm răng mờ chộ. Cái anh ni vui! (tiếng vui vút lên cao khiến cho chữ vui mang ý cười chê: anh ni tức cười quá!khùng quá!).
À mà tui “vui” thiệt, trước mắt tui là tòa nhà vuông vức môt khối thô cứng, không hòa điệu chút nào với Huế dịu dàng, sâu lắng, vươn lên cao, lừng lững che cả một khoảng trời phương nam Huế.
Câu thơ của thi sĩ Bùi Giáng:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương…
Chiều ni tui nghe như một nỗi tiếc nhớ xót xa: Huế đổi thay nhiều quá, chỉ còn núi Ngự và sông Hương là “trơ gan cùng tuế nguyệt”!


Quán bánh bèo cung An Định dễ tìm như Tịnh Tâm quán vì nó ăn theo tên một địa danh. Nhưng nếu việc ăn theo của quán thịt dê Tịnh Tâm khiến chúng tôi phiền lòng thì việc ăn theo của quán bèo nậm lọc lại khiến chúng tôi thích thú, tò mò. Cái tên “cung An Định” đã gợi cái chất Huế rồi, mà những món quà chiều nay lại là đặc sản ẩm thực Huế, là những món ăn bình dân thanh tao, nhẹ nhàng. Hai cái tên BÁNH BÈO và CUNG AN ĐỊNH  thiệt là hợp với nhau. Quán nằm ở một đường nhỏ bên phải khuôn viên cung An Định, thế thì tên gọi cũng có lý, may thay, hương vị món ăn cũng đậm đà, thái độ phục vụ khách hàng cũng nhẹ nhàng, rất Huế.
-         Cho hai dĩa bánh nậm lọc, ít ram nghe.
-         Dạ.
-         Cho nhiều ớt vô nghe.
-         Dạ.
-         Tui ăn cay lắm.
-         Dạ.
-   O có nghe câu ni chưa : Không ăn đậu không phải là người Mễ, không đi trễ không phải là người Việt.
-   Dạ.
-   Tui thêm : Không ăn cay không phải là người Huế, đúng không o?
-   Dạ.
-   O ni vui hè, noái chi cũng dạ!
-   Dạ.
Dạ, dạ, dạ,…nghe thiệt là Huế.
Tôi ngần ngừ trước cái bánh nậm còn lại trên dĩa. Bụng hơi no mà nhiều thứ bánh ngon khác còn chờ,…Thấy vậy, nàng cao giọng:
-Ăn họn cho rồi chơ làm duyên làm dáng chi nữa!
Ăn “họn”(ăn luôn đi, ăn quách đi cho xong)! Ui chao! Lâu lắm mới nghe lại cái tiếng rất Huế này!
…tui bỗng nhận ra một điều may mắn mà mấy hôm trước mãi bận tâm, bực bội vì những cái “phản Huế” tui không nhận ra: tui đang được ngồi ăn món quà Huế bên một cô nàng người Huế ! Mà như rứa cái thú thưởng thức văn hóa ẩm thực Huế mới trọn vẹn.
Trong khi lắng nghe vị bùi, béo, mềm mịn tan dần trong miệng, tui bốc phét:
-Vài năm nữa nghỉ hưu anh sẽ mở một quán món ngon xứ Huế, mời o chủ quán bánh bèo cung An Định vào làm bánh, Xanh thấy răng hè?
Nàng dí ngón tay thon mềm vào trán tui:
-Xí! Anh đừng có mà mợt nghe! Chủ nhà hàng Kim Long trả o 15 triệu một tháng mà o có thèm ừ hử chi mô!
Không cần biết Kim Long quán ở đâu, mười lăm triệu nhiều ít thế nào, tui đã bị choáng bởi tiếng “mợt” thốt ra từ cái miệng xinh đẹp của nàng rồi!
Lại thêm một tiếng Huế “chính chủ” mà tui đã quên bẳng đi từ lâu. (“mợt” là tưởng bở!). Ôi, vừa nhai bánh ít ram, nghe vị dòn rụm của bánh ram trộn lẫn với cái mềm mịn, dẻo dính của bánh ít vừa nghe âm vang của tiếng “mợt” rất Huế mơn man lỗ tai, sướng khoái nói răng cho hết!
Bánh ít ram
Dù còn thòm thèm, tụi tui vẫn phải rời quán ra về, mang theo hương vị bèo, nậm, lọc, ít ram cung An Định và âm vang ngọt ngào của hai tiếng đặc Huế: họn, mợt…
Cà phê Cố Hương vẫn thường là nơi nghỉ chân hóng mát của chúng tôi sau mỗi chiều dạo phố, quán ở bờ bắc sông Hương, nhìn ra khoảng sông xanh, êm ả giữa hai cây cầu quen thuộc: Tràng Tiền, Phú Xuân, hai cây cầu một cũ một mới bắt qua sông Hương như là biểu trưng cho cái cổ điển và cái hiện đại của Huế.(**)
Khi nắng chiều tắt hẳn thì cầu Tràng Tiền hiện ra với vẻ diễm lệ tân tiến của mình. Những vài cầu mềm mại lần lượt sáng lên với những màu sắc khác nhau. Đó là màu của những ngọn đèn màu được bố trí kín đáo để rọi sáng các vài cầu. cứ khoảng 3 phút cầu thay đổi màu một lần, có lúc mỗi vài cầu có một màu khác  nhau. Trong lúc đó thì những chiếc thuyền rồng với tiếng đàn ca réo rắt xuất hiện, lờ lững trôi qua . Đây là những chiếc thuyền chở du khách đi dạo sông Hương và trình diễn ca nhạc cung đình.
Trước cảnh non nước hữu tình đó, nàng cất tiếng hát nhỏ bài ‘Huế xưa”. Đây là bài hát tôi thích và đã nghe nhiều lần qua giọng ca Thiên Trang, Phi Anh nhưng lần này nghe nàng hát lòng tôi dạt dào cảm xúc. Tôi ngồi xích lại gần bên nàng, mê mẩn. Mê mẩn vì tiếng hát thân thương được cất lên trong khung cảnh hữu tình. Chúng tôi ngồi sát bên nhau lúc nào không hay, để lòng chơi vơi theo cảm hứng của cái đẹp của đất trời, của âm nhạc, của tình yêu Huế thiết tha, sâu thẳm trong lòng của những đứa con của Huế thương. Thật thanh cao, trong sáng, lòng không bợn chút bụi trần…
Tui đã tìm lại Huế của tui như rứa đó!
Sáng hôm sau, theo lời gọi của mệ Ba, tui ra quán Lục Bộ. Tại đây, thật vui, tui được gặp những khuôn mặt của Huế một thời:
Anh Cao Hữu Điền, anh Giảng, mệ Ba, R
Với các anh, hoài niệm từ một thời Huế xưa sôi động xuống đường hoặc thơ mộng lãng mạn tràn về. Những cái tên vang vang hoài niệm: Trường Quốc học, Đồng Khánh, giảng đường Đại học, cà phê Tổng Hội, cà phê Chín Lỗ bên sông  An Cựu(*), những ngày công tác xã hội ở những miền quê hoang tàn vì bom đạn,..hiện về trong hồi ức. Huế vẫn còn đó!
Dạ thưa xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương…
Lúc này hai câu thơ của thi sĩ đất Quảng Nam vang lên như một lời khẳng định. Điều này càng được củng cố hơn vào những ngày cùng nàng đi thăm một vài cảnh cũ, thưởng thức những món ăn dân dã cổ truyền của Huế ở nhũng góc đường, hè phố của những gánh hàng giản dị, gặp lại những người năm xưa, đi vào chiều sâu của Huế.
thanhdalat
23/8/2013
Đi tìm lại Huế: (ảnh tui chụp, trừ ảnh thứ 14,15 nhờ chụp)
 Chùa Huyền Không Sơn Thượng

Cổng chùa Diệu Đế (Sư và tiểu lợp lại ngói)
Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế bên sông An Cựu
Cổng vào thành nội

Lầu Ngọ Môn
Con đường ngăn cách trường Quốc Học và trường Đồng Khánh

Bến nước làng Sình
O con gái Huế
Nói chuyện hội họa

Nói chuyện blog
Sinh hoạt Hướng Đạo. 8/2011 (nhiều thế hệ)
…………….
(*) Quán cà phê bên sông An Cựu của một gia đình gồm có bà mẹ và tám o con gái xinh đẹp trông coi. Sinh viên Huế thường đến “ngồi thiền” vì mấy o. Có cậu sinh viên nào đó ranh ma ngồi đếm “lỗ” rồi đặt tên cho quán.
(**)Gọi là cầu mới nhưng Phú Xuân xây dựng từ năm 1974; còn cầu Tràng Tiền có tuổi thọ đã hơn 100 năm.



12 thg 8, 2013

Một thoáng Huế, hè 2013 (1)

Xưa là Huế mộng, Huế mơ…
Huế đã tự nhiên đi vào thơ, nhạc từ lúc nào không hay. Không cần phải phát động phong trào viết về Huế, tự phong cảnh cố đô gợi cảm hứng cho khách thơ . Khách thơ viết về Huế như một cách tỏ tình với Huế.
Nhạc sĩ Văn Cao đã bày tỏ : Huế là một nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 40. Thơ và nhạc là điều tôi tìm từ nguồn ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của Cố Đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo”. Việt Trang thì coi Huế là người bạn thơ, người bạn tri âm, ông trực tiếp tâm tình với Huế:
Tiếng thơ người gởi cho tôi
Tiếng  thơ tôi gởi cho người thiết tha.
                                                                (Bài thơ gởi Huế)
Con sông Hương, cầu Tràng Tiền, thôn Vĩ Giạ, Thành Nội, Kim Long,…những địa danh của Huế đã đẫm chất thơ tự bao giờ.
Nhưng có người quả quyết:
            “Vẻ đẹp Huế có nơi nào có được.
            Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư.”
khiến người Huế nghe mà ốt dột. "noái chi trạng rứa!" Rất may, nhà thơ đó không phải là người Huế và không nói đúng giọng Huế. (Thơ của Đỗ Thanh Bình, lúc đó, là Trưởng phòng Văn nghệ Đài Phát thanh TP Quy Nhơn (Bình Định). Người phổ nhạc là Trương Thị Tuyết Mai, quê ở tỉnh Phú Yên).Nói giọng Huế phải như ri nì: “Vẻ đẹp Huệ có chỗ mô mà có được… Néc diệu dàng pha lững trầm tư.”

 Huế, hè 2013 trong mắt Rhum.
Lọc cọc…Ai canh khô…ng…rẻng rẻng…
Bắt đầu từ tiếng lọc cọc, rổn rảng như tiếng nhạc đệm cho tiếng rao quen: Ai…canh khô…ông….Thay cho đòn gánh tre đè nặng trên đôi vai o Lài là chiếc xe bốn bánh, đó là chiếc xe đẩy cải tiến . Phải chăng đây là kết quả của chuyến Mỹ du của o năm ngoái? Tự dưng lòng bâng khuâng vì sự hiện đại hóa gánh hàng rong của o Lài. Cũng đỡ nhọc nhằn cho o, nhưng …



Bánh khoái Thượng Tứ. Một cái tên quen thuộc trong ẩm thực Huế như cơm Hến Trương Định, bún bò mụ Rớt, nậm lọc Gia Hội; nói theo cách nói hôm nay: Bánh khoái Thượng Tứ là một “thương hiệu” có giá trị. Ngày xưa thơ bé, đã được thưởng thức một lần, nhớ hoài cái bánh bột chiên dày, đầy thịt, trứng, tôm, mực…Ăn một lần cứ ao ước mãi. Chiều hôm nay cùng một cô bạn Huế đi tìm lại hương vị cũ với bao nhiêu háo hức.
Tụi tui đến khúc đường ngoài cổng thành Thượng Tứ, nơi mà bánh khoái Huế thành danh. Có hai cái quán kề nhau : Lạc Thiện, Lạc Thạnh. Chúng tôi vào Lạc Thiện (có lẽ vì chữ Thiện nghe dễ thương hơn chữ Thạnh?). Khách chờ khá đông. Nhưng do lòng kiên nhẫn của tâm hồn ăn uống hoài cổ, chúng tôi cũng có được cái mình mong đợi: hai cái bánh khoái chất đầy cái dĩa trên bàn. Tôi và bạn im lặng thưởng thức cái món ăn đã là thương hiệu. Lật qua lật lại, ngắm nghía, nhai, nuốt,…Té ra cũng chẳng khác cái bánh xèo tôi vẫn thường ăn ở những góc đường vô danh ở Dalat, nghĩa là một món quà chiều bình dân, giản dị: bột chiên, con tôm, lát thịt ba chỉ. Cô bạn nói: bánh khoái dòn hơn bánh xèo! Chỉ vậy thôi sao? Vậy mà nhờ cái thương hiệu, bánh khoái đã lên ngôi một cách bất xứng. Chúng tôi đã trả cho cái thương hiệu đó khá đắt : 25.000đ/cái (trong khi một cái bánh xèo chất lượng tương đương : 5,000đ/cái).

 Buổi sáng cùng bạn đi cà phê, qua cầu Tràng Tiền, chiếc cầu xưa hẹp, những cô gái Huế mặc quần short, đội nón bảo hiểm, cỡi xe tay ga phóng vèo qua mặt, chen lách tài tình như làm xiếc. Còn đâu những mái tóc dài, vành nón lá, tà áo dài tha thướt bên mấy nhịp cầu? Câu hát xưa
Cầu Tràng tiền sáu vài mười hai nhịp,
Em qua không kịp tội lắm người ơi.
đã xưa rồi, vì chỉ vài phút thôi là chiếc xe tay ga đã đưa o tóc ngắn qua hết 12 nhip 6 vài.
A, mà chính cây cầu xưa cũng đã đổi khác sau một lần sửa chữa: thành cầu hai bên làm lại thẳng ro, cắt phăng các ban công ở hành lang hai bên tại vị trí các trụ cầu (nhịp cầu). Thế là khách qua cầu không còn chỗ để dừng chân ngắm sông Hương và cảnh vật hai bên bờ. (*)


Tụi tui ngồi ở quán cà phê ở góc đường Nguyễn Huệ (sau lưng trường Luật ngày xưa). Bên kia đường là tòa nhà khá lớn dùng làm thư viện tư nhân của gia đình ông Nguyễn Hữu Châu Phan, một nhân sĩ Huế, là chủ biên tập san Nghiên Cứu Huế.

Ông Nguyễn Hữu Châu Phan
 Đây là thư viện gia đình nhưng có nhiều cuốn sách cổ. quý hiếm mà ngay cả thư viện tỉnh, thư viện đại học Huế cũng không có, là kết quả một đời đọc sách của kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, thân phụ ông Nguyễn Hữu Châu Phan. Thư viện mở cửa cho sinh viên, học sinh hay bất cứ ai có nhu cầu đến đọc, hay mượn một cách dễ dàng, phục vụ miễn phí vào các ngày chẵn trong tuần. Năm 2008, tủ sách của gia đình Nguyễn Hữu đã giật giải “quán quân” tại cuộc thi “Tủ sách gia đình lần thứ 2” do NXB Văn nghệ tổ chức. Đang bình luận về cái thư viện tư nhân hiếm có này thì bên đường, một phụ nữ khoảng 40 tuổi, miệng rớm máu, tay lăm lăm hòn đá to dứ dứ vào mặt kính trước của chiếc xe hơi bóng loáng đậu trước quán, một gã đàn ông trung niên, có lẽ là ông chồng, ăn mặc lịch sự sấn sổ chạy đến, khách hàng ngồi gần đó đứng dậy can ngăn. Hình ảnh không chút thơ mộng này che khuất cái thư viện chúng tôi đang nói đến. Thấy tôi ngỡ ngàng trước cảnh tượng đó, người bạn dường như hiểu ý,, nói:
-Chuyện đời mà, ở đâu cũng có, riêng chi Huế.
Phải rồi, dẫu có bị một lớp bụi thời đại phủ lên, Huế vẫn còn đó. Điều này mấy hôm sau tôi đã có dịp nhận ra.

thanhdalat
12/8/2013
-------------
(*)Sau khi kết thúc chiến tranh (1975); mãi tới năm 1991 cầu Trường Tiền mới được khôi phục, trùng tu lần nữa. Ở lần trùng tu này do Công ty Cầu 1 Thăng Long đảm nhiệm, kéo dài trong 5 năm (1991-1995), có nhiều thay đổi quan trọng, đó là việc dỡ bỏ các ban công ở hành lang hai bên tại vị trí các trụ cầu, lòng cầu (cả đường chính và phụ) bị hẹp lại do phải nẹp thêm hai ống lan can, màu sơn ghi xám thay cho màu nguyên bản từ xưa của cầu là màu nhũ bạc,...[9].
Từ Festival Huế năm 2002, cầu Trường Tiền được lắp đặt một hệ thống chiếu sáng đổi màu hiện đại...

Huế, hè 2013

Xưa là Huế mộng, Huế mơ…
Huế đã tự nhiên đi vào thơ, nhạc từ lúc nào không hay. Không cần phải phát động phong trào viết về Huế, tự phong cảnh cố đô gợi cảm hứng cho khách thơ và khách thơ viết về Huế như một cách tỏ tình với Huế.
Nhạc sĩ Văn Cao đã bày tỏ : Huế là một nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 40. Thơ và nhạc là điều tôi tìm từ nguồn ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của Cố Đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo”. Với Việt Trang, Huế còn là người bạn thơ, người bạn tri âm. Hãy nghe ông thì thầm :
Tiếng thơ người gởi cho tôi
Tiếng  thơ tôi gởi cho người thiết tha.
                                                                (Bài thơ gởi Huế)
 Con sông Hương, cầu Tràng Tiền, thôn Vĩ Giạ, Thành Nội, Kim Long,…những địa danh đã đẫm chất thơ.
Lại có người quả quyết:
            “Vẻ đẹp Huế có nơi nào có được.
            Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư.”
khiến người Huế nghe mà ốt dột. Rất may, nhà thơ đó không phải là người Huế và không nói đúng giọng Huế. Thơ của Đỗ Thanh Bình, nhạc của Trương Thị Tuyết Mai.  Đỗ Thị Thanh Bình, lúc đó, là Trưởng phòng Văn nghệ Đài Phát thanh TP Quy Nhơn (Bình Định). Trương Thị Tuyết Mai quê ở tỉnh Phú Yên.Nói giọng Huế phải như ri nì: “Vẻ đẹp Huệ có chỗ mô mà có được… Néc diệu dàng pha lững trầm tư.”

.
 Huế, hè 2013 trong mắt Rhum.

Lọc cọc…Ai canh khô…ng…rẻng rẻng…
Bắt đầu từ tiếng lọc cọc, rổn rảng như tiếng nhạc đệm cho tiếng rao quen: Ai…canh khô…ông….Thay cho đòn gánh tre đè nặng trên đôi vai o Lài là chiếc xe bốn bánh, không chạy bằng xăng mà do o Lài đẩy tới. Phải chăng đây là kết quả của chuyến Mỹ du của o năm ngoái? Tự dưng lòng bâng khuâng vì sự hiện đại hóa gánh hàng rong của o Lài. Cũng đỡ nhọc nhằn cho o, nhưng …


Bánh khoái Thượng Tứ. Một cái tên quen thuộc trong ẩm thực Huế như cơm Hến Trương Định, bún bò mụ Rớt, nậm lọc Gia Hội; nói theo cách nói hôm nay: Bánh khoái Thượng Tứ là một “thương hiệu” có giá trị. Ngày xưa thơ bé, đã được thưởng thức một lần, nhớ hoài cái bánh bột chiên dày, đầy thịt, trứng, tôm, mực…Ăn một lần cứ ao ước mãi. Chiều hôm nay cùng một cô bạn Huế đi tìm lại hương vị cũ với bao nhiêu háo hức.
Tụi tui đến khúc đường ngoài cổng thành Thượng Tứ, nơi mà bánh khoái Huế thành danh. Có hai cái quán kề nhau : Lạc Thiện, Lạc Thạnh. Chúng tôi vào Lạc Thiện (có lẽ vì chữ Thiện nghe dễ thương hơn chữ Thạnh?). Khách chờ khá đông. Nhưng do lòng kiên nhẫn của tâm hồn ăn uống hoài cổ, chúng tôi cũng có được cái mình mong đợi: hai cái bánh khoái chất đầy cái dĩa trên bàn. Tôi và bạn im lặng thưởng thức cái món ăn đã là thương hiệu. Lật qua lật lại, ngắm nghía, nhai, nuốt,…Té ra cũng chẳng khác cái bánh xèo tôi vẫn thường ăn ở những góc đường vô danh ở Dalat, nghĩa là một món quà chiều bình dân, giản dị: bột chiên, con tôm, lát thịt ba chỉ. Cô bạn nói: bánh khoái dòn hơn bánh xèo! Chỉ vậy thôi sao? Vậy mà nhờ cái thương hiệu, bánh xèo đã lên ngôi một cách bất xứng. Chúng tôi đã trả cho cái thương hiệu đó khá đắt : 25.000đ/cái (trong khi một cái bánh xèo chất lượng tương đương : 5,000đ/cái).
Bà chằng lửa?
 Một sáng ngồi ở quán cà phê ở góc đường Nguyễn Huệ (sau lưng trường Luật ngày xưa). Bên kia đường là tòa nhà khá lớn dùng làm thư viện tư nhân của gia đình ông Nguyễn Hữu Châu Phan, một nhân sĩ Huế. Đây là thư viện gia đình nhưng có nhiều cuốn sách cổ. quý hiếm mà ngay cả thư viện tỉnh, thư viện đại học Huế cũng không có, là kết quả một đời đọc sách của kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, thân phụ ông Nguyễn Hữu Châu Phan, thư viện mở cửa cho sinh viên, học sinh hay bất cứ ai có nhu cầu đến đọc, hay mượn một cách dễ dàng, phục vụ miễn phí vào các ngày chẵn trong tuần. Năm 2008, tủ sách của gia đình Nguyễn Hữu đã giật giải “quán quân” tại cuộc thi “Tủ sách gia đình lần thứ 2” do NXB Văn nghệ tổ chức. Đang bình luận về cái thư viện tư nhân hiếm có này thì bên đường, một phụ nữ khoảng 40 tuổi, miệng rớm máu, tay lăm lăm hòn đá to dứ dứ vào mặt kính trước của chiếc xe hơi bóng loáng đậu trước quán, một gã đàn ông trung niên, có lẽ là ông chồng, ăn mặc lịch sự sấn sổ chạy đến, khách hàng ngồi gần đó đứng dậy can ngăn. Hình ảnh không chút thơ mộng này che khuất cái thư viện chúng tôi đang nói đến. Thấy tôi ngỡ ngàng trước cảnh tượng đó, người bạn dường như hiểu ý, nói:
-Chuyện đời mà, ở đâu cũng có, riêng chi Huế.
Phải rồi, Huế vẫn còn đó dẫu có bị một lớp bụi thời đại phủ lên. Điều này mấy hôm sau tôi đã có dịp nghiệm ra.

14 thg 4, 2013

LÀM DÂU XỨ HUẾ. (Truyện vui của Thùy An)



Thùy An
Lấy chồng xứ Huế
                                       Truyện vui

1. Quen Khanh đã ba năm, tôi không hề biết anh là người Huế. Anh nói tiếng Nam ngọt xớt. Những danh từ rất Nam bộ như “hưỡn”, “xí xọn”… anh đều hiểu rõ và đôi khi còn áp dụng vào những câu chuyện khôi hài rất có duyên. Cho đến khi tình cảm hai đứa chín muồi, Khanh ngõ ý:
     -Ba me anh muốn biết mặt em.
     Tôi theo Khanh về nhà trong tâm trạng vô cùng hồi hộp. Dù đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi vẫn cảm thấy bối rối, chân tay thừa thải trước tia nhìn vừa dịu dàng vừa soi mói của mẹ Khanh. Đó là người phụ nữ ngoài năm mươi, gương mặt tròn trịa, nước da trắng mịn phảng phất vài nếp nhăn nơi đuôi mắt. Tóc bà nhuộm màu nâu đen, được bới cao, cài trâm đồi mồi trông rất quí phái. Bà trang điểm nhẹ nhàng, một chút phấn hồng và môi son màu nhạt.
     -Thưa mẹ, đây là Kiều Tiên, bạn gái của con.
     Nụ cười của bà thật tươi:
     -Kiều Tiên à? Cái tên dễ thương hí. Ngồi chơi đi cháu. Chờ bác một chút.
     Bà đứng dậy đi vào trong, để lại tôi ngơ ngác sau khi nghe một loạt âm thanh líu lo như chim hót. Khanh nheo mắt:
     -Sao? Không hiểu à? Anh đã nói rồi, gia đình anh người Huế, vậy mà không tin. Em có phải là chắt nội của Tào Tháo không đó?
     Mẹ Khanh ra, trên tay bưng một cái dĩa hình bầu dục tráng men xanh. Bà đến gần tôi, đặt dĩa lên bàn:
     -Ăn đông sương với bác cho vui.
     Đông sương? Không phải. Đó là những miếng thạch dày khoảng hai phân, được cắt thành từng miếng hình thoi bằng ba ngón tay. Rải rác giữa lớp thạch trong suốt là những khối vuông nhỏ màu trắng, đen, nâu, cam và xanh lá cây.
     Mẹ Khanh nhìn tôi chăm chú. Hình như bà đang nghĩ, con nhỏ này câm chắc? Và tôi cũng nghĩ, Kiều Tiên, hãy nói một câu gì đi chứ.
     -Cháu cám ơn. Ô, thạch của bác làm đẹp quá.
    Mẹ Khanh vui vẻ:
     -Người Huế gọi thạch là đông sương cháu à. Cháu ăn đi, đừng sợ, bác không dùng màu thực phẩm mô –rồi bà lấy tăm ghim miếng thạch lên săm soi –cháu coi màu nì, màu trắng là sữa, đen là cà phê, nâu là cà phê sữa, lục là nước lá dứa, còn màu gạch là nước cà rốt.
     Màu “gạch” là màu “cam”! Tôi lại học được một từ đặc trưng của Huế. Miếng thạch ngọt thanh tan trên đầu lưỡi, thấm vào lòng tôi những cảm giác dịu êm.
     Cổng nhà Khanh bỗng mở toang. Một người đàn ông trung niên,giống Khanh như tạc phóng xe máy vào. Ông đứng trước thềm, tươi cười nhìn mẹ Khanh rồi chỉ tay vào giỏ xe: một chậu hoa dâm bụt vừa nở hai nụ hàm tiếu màu vàng. Mẹ Khanh đến gần, ngắm nghía:
     -Mình mới mua hả? Ôi bông cẩn vàng, đẹp thiệt đó.
     Tôi tròn mắt. Khanh ghé vào tai tôi:
     -Người Huế gọi “Hoa dâm bụt” là “bông cẩn”.
     Ba Khanh bước vào phòng khách, mẹ Khanh theo sau bảo Khanh:
     -Con bưng chậu hoa xuống rồi đi cất xe cho ba.
     Tôi đứng dậy, vòng tay:
     -Cháu chào bác ạ.
     -Cháu là bạn gái của Khanh phải không? Bác gái nói cho bác biết rồi.
     Ba Khanh ngồi đối diện tôi, hỏi han ân cần. Giọng ông ấm áp, tuy âm sắc hơi nặng, có nhiều từ tôi không hiểu rõ, chỉ lờ mờ đoán ra. Nhưng ánh mắt ấy, cử chỉ ấy đã nói lên một tình cảm chân thành.

2. Tôi nhận lời cầu hôn của Khanh, mặc cho những lời bàn ra tán vào của đám bạn. Thật ra cũng vì thương tôi, nên chúng nó mới đề cao cảnh giác nhiệt tình như thế. Nào là: “Công dung ngôn hạnh mày có được bao nhiêu mà dám uống thuốc liều hở?”, “Làm dâu người Huế khó lắm, mày chịu được sao?”, “Chúng tao khuyên mày nên đi học vài khoá nấu ăn, làm bánh mới đủ sức đối phó.”…
     Tôi bịt hai tai, hét:
     -Chúng mày có im hết đi không? Tình yêu của Khanh đã cho ta đầy đủ mười thành công lực.
     Nói thì oai lắm, nhưng lòng tôi cũng hơi run khi nghe ba Khanh bảo:
     -Đám cưới xong, Khanh nên đưa Kiều Tiên về Huế thăm mệ và mấy O. Xa xôi quá, không ai vào chung vui cùng hai con được. Ba nghĩ là họ rất mong thấy mặt con dâu của ba.
     Tôi lại càng run. Cái gì “mệ”, cái gì “O”?
     Khanh lại “phụ đề Việt ngữ”:
     -Mệ là… bà nội của anh đó. Còn O là hai người em gái của ba.
     -Như vậy “O” có nghĩa là “cô” phải không anh?
     -Đúng. Cho em 10 điểm. Còn “mệ”?
     -Mệ là… bà nội chớ gì.
     -Mệ là bà thôi. Mệ nội, mệ ngoại, là bà nội, bà ngoại.
     -Sao hồi nãy anh nói mệ là bà nội? Tiền hậu bất nhất, cho anh zéro điểm là vừa.
     -OK, anh chịu thua em 1 – 0 đó, bây giờ nghe anh nói tiếp nè.
     -Bộ anh muốn em loạn thần kinh hả?
     Khanh dỗ dành:
     -Nếu em không chịu cho anh truyền thêm nội công thì làm sao ứng phó với bà con nội ngoại của anh ngoài Huế chứ.
     Có lý. Mặc dù tôi chưa quen nghe giọng Huế, nhưng nếu tôi hiểu được những từ người Huế thường dùng, thì sự đồng cảm giữa tôi và “giang sơn nhà chồng” sẽ dễ dàng hơn. Tôi lấy tờ giấy và cây bút:
     -Được rồi, anh nói đi. Em sẽ ghi và học thuộc lòng.
     Khanh phấn chấn ra mặt:
     -Em ngoan quá –rồi tằng hắng –Anh bắt đầu nè. Người Huế từ “mô” là “đâu”, ví dụ “anh đi mô?” có nghĩa là “anh đi đâu?”, “bên ni” là “bên này”, “bên nớ” là “bên kia”, “răng” là “sao”, “rứa” là “thế”, “kiệt” là “hẻm”, “tra” là “già”, “ăn kỵ” là “ăn giỗ”…
     Đầu óc tôi lùng bùng, tay chân tôi quờ quạng. Khanh đặt câu hỏi:
     -Đố em, “ôn” là gì?”
     Tôi xếp giấy lại, thở phào:
     -Anh hết vốn rồi hả? Đố như anh, con nít cũng biết. Ôn là ôn tập chớ gì.
     Khanh kí vào đầu tôi:
     -Cho em xuống học lớp Lá là vừa. “Ôn” là “Ông”. Gặp các ông già, người ta thường “Thưa ôn”, cũng như đối với các bà lão, người ta thường “thưa mệ”…
     Khanh tiếp tục đưa tôi vào mê hồn trận:
     -À, anh nhắc em điều này, nếu thấy một người đàn ông được gọi là “Mệ” thì em cũng đừng ngạc nhiên, vì đó là những người trong hoàng tộc…
     Tôi hét lên:
     -Cái gì? Ôi em bị tẩu hoả nhập ma rồi.

3. “Giang sơn nhà chồng” của tôi toạ lạc giữa một khoảng vườn xanh tốt trong thành nội, gồm ba căn nhà trệt lợp ngói rộng rãi, ngăn cách nhau bởi các dãy hàng rào bằng cây thấp, lá nhỏ, quấn quít những sợi dây leo màu vàng. Khanh nói:
     -Bà nội anh rất thích chăm sóc vườn tược. Hàng rào chè tàu này còn già hơn tuổi của anh nữa đó, còn kia là những dây tơ hồng. Em thấy có đẹp không? Ngày trước, nhà anh chỉ có một căn thôi, sau này hai O lập gia đình, bà nội mới xây thêm hai căn nữa, của hồi môn ấy mà.
     Có tiếng reo:
     -Khanh, cháu Khanh đó phải không?
     Một phụ nữ khoảng trên dưới năm mươi, mặc quần tây nâu, áo hoa sặc sỡ, từ căn nhà bên phải chạy ra. Tóc bà uốn cao, nước da trắng, miệng cười có má lúm đồng tiền.
     -Đây là O Hương của anh.
     -Cháu chào… O ạ.
     O Hương tiến đến gần, vuốt má tôi:
     -Vợ thằng Khanh đây hả. Chà, hai đứa xứng đôi lắm đó nghe –rồi bà kéo tay tôi và Khanh về phía căn nhà giữa –Mạ ơi, vợ chồng Khanh về tới rồi nì.
     Khanh nhìn sang căn nhà bên trái cửa khoá ngoài. O Hương nói:
     -O dượng Hoà về làng ăn kỵ rồi. Chắc là mai mới lên.
     Nãy giờ tôi cố ý lắng nghe. Eureka, tôi đã nhớ. “Ăn kỵ” là “ăn giỗ”, còn “mạ”? Chắc là “mẹ” rồi. Xem ra tiếng Huế đâu có khó gì, khỏi cần Khanh làm thông dịch.
     Bà nội của Khanh rất đẹp lão. Mái tóc bà bạc phơ, gương mặt hồng hào, phúc hậu. Bà đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh ngưỡng cửa, miệng cười móm mém, âu yếm nhìn Khanh đi bên tôi.
     -Chúng cháu chào mệ.
     Bà gật đầu rồi đưa tay níu lấy vai Khanh:
     -Đỡ mệ vô nhà.
     Bà nhỏ bé trong vòng tay Khanh, bước chân bà khập khiểng. Khanh lo lắng:
     -Mệ, mệ bị sao vậy?
     O Hương đỡ lời:
     -Hôm qua mệ ra vườn tưới cây, mệ bị bổ.
     -Im đi, tau bớt rồi –bà nhìn O Hương từ đầu đến chân –mi bận cái áo chi mà loè loẹt rứa? Tra rồi, gần làm mụ gia rồi, còn bày đặt diện.
     Tôi nói nhỏ với Khanh:
     -Em hiểu từ “tra” rồi, nhưng “bổ”là gì? Còn “mụ gia”?
     -“Bổ” là “té”, còn “mụ gia” là “mẹ vợ” hoặc “mẹ chồng”. Xứ Huế anh có câu: “Thương chồng mà khóc mụ gia, chớ tui với mụ chẳng bà con chi.”
     Tôi che miệng cười. Bà nội Khanh ngồi trên sập gụ, vẫy Khanh và tôi lại gần. Bà vuốt tóc tôi:
     -Mệ có coi bóng đám cưới, trông cháu đẹp hơn trong bóng nhiều. Biết hai cháu sắp ra thăm mệ, đêm mô mệ cũng nằm chộ.
     Khanh thông dịch ngay:
     -“Bóng” là “hình”…
     Tôi ngắt lời:
    -Còn “nằm chộ” là “nằm mơ”, đúng không?
     -Very good, em thông minh thật đấy.
     Bà nội Khanh có vẻ thích tôi. Bà kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện, từ chuyện làng xóm, đến chuyện những người trong họ tộc, chuyện gia đình Khanh… giọng bà nhẹ nhàng, thân ái. Vì đã ôn tập trước, nên những từ rặt Huế như răng, mô, tê, rứa… tôi hiểu dễ dàng. Và càng lúc, tôi càng thấy gần gũi bà, thương yêu bà hơn.
     -Cháu biết không? Chồng của cháu rất thích ăn chè thịt quay.
     Chè thịt quay là gì? Tôi nhìn quanh tìm Khanh. Nhưng thôi, khỏi cần thắc mắc, chẳng qua cũng chỉ là món chè bình thường, cứ ăn vào là biết ngay thôi mà. Bà gọi:
     -Hương ơi, lấy cà mèn đi mua chè thịt quay cho các cháu ăn đi con.
     O Hương bảo Khanh:
     -Cháu qua nhà dắt dùm chiếc xe ra cho O.
     -Để cháu chở O đi.
     Khanh đến bên tôi:
     -Em ở nhà với mệ được không?
     Tôi vênh mặt:
     -Anh khỏi lo. Mệ nói gì em cũng hiểu hết.
*
     Tôi đi thơ thẩn trong vườn. Nắng chiều dìu dịu, gió chiều êm ái. Lòng tôi rộn vui theo tiếng chim hót chuyền cành. Hình như bà nội gọi:
     -Vợ thằng Khanh mô rồi?
     Tôi hấp tấp chạy vào:
     -Mệ sai cháu gì ạ?
     -Cháu ra ngoài “cươi” lấy cái “chủi”, “xuốt” dùm mệ cái “dà”.
     -!!!
     Lần này thì tôi thua thật. Khanh ơi, mau về cứu em.

(Rhum sưu tầm)