Hiển thị các bài đăng có nhãn . Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn . Hiển thị tất cả bài đăng

2 thg 9, 2012

Tiếng rao quen








Huế Xưa. Nhạc Anh Bằng- Ca sĩ Phi Anh

2011
Về lại nhà mấy ngày rồi, buổi sáng vẫn tiếng đào rơi, vẫn dáng thân quen chú Mừng chăm mấy chậu cây cảnh, o Hiệp xuốt sân, mạ lui cui dọn quán, Gia vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì…
Một sáng nọ, đang lượm mấy chiếc lá vàng rơi trên non bộ, bỗng nghe:
- Ai  canh…khô…! (Ai ăn bánh canh không!)
Tiếng rao lảnh lót vọng từ đầu xóm.
Lòng Gia như có tiếng reo.
Đúng rồi, đây đúng là cái thiếu vắng của khu xóm nhỏ mấy hôm nay. Cứ như bản đàn thiếu đi một âm sắc cần thiết, một bức họa chưa có một nét chấm “điểm nhãn”.
Tiếng rao đi trước như một “dự lệnh”, để khi o bánh canh đi đến giữa xóm, đặt gánh xuống thì những khách-ăn-mua-đem-về-nhà đã cầm đoại đứng chờ. Còn những người khác thì cũng vừa đến để ngồi xổm quanh gánh quà sáng quen lệ.
Quen lệ, cứ mỗi sáng, tầm 7g đã nghe tiếng rao và gánh hàng của o đầu xóm. Tên o thật mộc mạc: O Lài bánh canh. O và gánh hàng đi xích lô từ Thủy An – ngôi làng ở bên sông An Cựu chuyên nghề nấu bánh canh – qua xóm Canh Nông, một xóm nhỏ trong Thành Nội này, xa cũng đến 3 km.

 
Thật chẳng bỏ công o đi xa như thế, vì phần nhiều dân các phường trong thành phố đều ưa chuộng bánh canh Thủy An nên hễ cất gánh ra đi thì khi về với gánh không.  Bánh canh Thủy An là món ăn rẻ mà việc chế biến lại là một nghệ thuật của ẩm thực dân dã.
Gia được biết nguyên liệu chính để làm bánh canh là bột gạo. Trước khi giã, bột phải được ngâm kỹ. Đổ bột vào cối rồi giã cho tới lúc “chín”, tức là lúc bột dai mà không dính tay và khi nấu nước không qúa sệt.
Cua đồng giã kỹ, chắt lấy nước cua cho vào nồi nấu đến lúc kết riêu thì vớt ra, cùng với xác cua làm chả. Để thêm chất lượng cho đoại bánh canh, o bỏ thêm vào mỗi đoại một cái trứng cút đã lột vỏ,…
Gia nhìn đoại bánh canh thấy thật bổ dưỡng và hấp dẫn, thầm nghĩ, o nấu như ri mà bán một tô có năm ngàn đồng thì không biết lời cái chỗ mô. Ở Đà Lạt một tô bánh canh rẻ nhất cũng 15 ngàn đồng, hì hì, bánh canh Huế rẻ như ri thì tội chi mình không mần luôn hai đoại cho ấm tình quê hương hè.

Gia  ngồi xề xuống bên gánh hàng của o chờ đến lượt. Trước khi đưa đoại bánh canh cho chàng, o Lài còn múc thêm muỗng nhỏ ớt xào hành cho vào đoại, màu đỏ ớt làm cho bề mặt bánh canh vốn có màu trắng của sợi bánh, màu vàng của riêu cua, màu xanh của hành ngò sinh động hẳn lên. Bưng đoại bánh canh còn nóng hổi, múc một muổng cho vào miệng, nghe sợi bánh canh tan dần, vị  ngọt đằm của riêu cua, vị bùi của trứng cút, vị cay của ớt màu quyện vào nhau đậm đà không bút nào tả xiết. Bánh canh đã trôi xuống bao tử mà dư vị như còn lưu vị giác.

   

Trong khi chờ đoại thứ hai, Gia hỏi o sao mấy hôm không qua bán, o cho biết o đi chơi động Phong Nha với con, cháu. Thằng rể Việt kiều về thăm thuê một chiếc xe hơi đưa cả nhà đi du lịch.
Gia nói:
- Có con gái lấy Việt kiều sung sướng rồi, còn đi bán bánh canh chi cho cực thân hở o.
- Ôi chào, con có phận con, mình có phận mình chú à. Mà ngồi không cũng vô vị lắm, mấy hôm nghỉ bán thấy răng răng đó chú à.
Trông o không khác chi những người phụ nữ bán hàng rong ở cố đô những năm xưa, chỉ thiếu cái áo dài mặc mỗi khi gánh hàng đi bán; món bánh canh của o cũng vậy, chất lượng luôn ổn định, dù bán đắt hay ế cũng chỉ một nồi, bán hết thì về. Bình dị, nhẹ nhàng, thanh thản. Bằng món bánh canh sáng vừa rẻ vừa ngon, o đã đem đến niềm vui cho bà con và vì thế o cũng có niềm hạnh phúc giản dị .
Tạm xa cuộc mưu sinh quay cuồng, về lại xóm nhỏ, ngồi bên gánh bánh canh mộc mạc, Gia như tắm mình trong cõi bình an, thanh thản.
Chàng mong mọi sự trôi êm như thế mãi…
*
2012
Năm nay lại trở về nhà. Buổi sáng vẫn trôi êm như năm trước nhưng, buồn thay, đã thật sự thiếu vắng tiếng rao “Ai canh…khô…”(không) quen thuộc.
O Lài bánh canh đã sang Mỹ định cư với gia đình con gái.
Thay cho tiếng rao lảnh lót xưa là tiếng rao vang vang, trẻ trung:
-  Ai bạnh canh riêu cua đey! Bạnh canh đey!
Cùng với tiếng rao khỏe khoắn là dáng o gánh hàng thoăn thoắt đi nhanh vào ngõ xóm. O bán bánh canh năm nay còn rất trẻ, có cái tên rất đẹp: Diễm. O cùng với gánh hàng đi qua đây bằng xe Honda thồ (trong Nam gọi là xe ôm). Với nụ cười tươi tắn, lời mời chào đon đả, dần dà o cũng chinh phục được cảm tình của người dân xóm nhỏ.
O Diễm không phải người Thủy An, nhưng có bà con gần xa chi đó với o Lài bánh canh. Theo lời o Diễm thì qua bên Mỹ ít lâu, “ Dì Lài than buồn, nhớ làng xóm, nhớ gánh bánh canh, muốn về lắm nhưng còn phải chăm cháu ngoại.”
Gia hình dung nét mặt của o Lài bánh canh ở bên Mỹ mỗi sáng sớm: vẻ bình an của o đã bị cuộc sống tiện nghi mà lạc lõng quê người hằn lên nhiều nét nhăn. Và o phải khổ biết bao nhiêu vì tiếng rao lảnh lót của o bị giam tức nghẹn trong cổ mỗi sáng.
Gia múc vài muỗng bánh canh đưa vào miệng, có ý thưởng thức. Vẫn là món bánh canh riêu cua quen thuộc nhưng không hiểu sao chàng lại có cảm giác mặn và gắt hơn bánh cánh năm trước!
Hình như  Gia vẫn còn nặng tình với cái hương vị bình đạm, dịu nhẹ, êm đềm của những năm xưa.
Khi khách ăn sáng đã vãn, o Diễm quảy gánh lên vai, thoăn thoắt đi qua xóm khác. Từ xa vọng lại tiếng rao trong trẻo, khỏe khoắn:
- Ai bạnh canh riêu cua khô ô ô ng! Bạnh canh riêu cua đey!
Buổi sáng đã có tiếng rao điểm vào không gian yên tĩnh của xóm nhỏ nhưng Gia vẫn thấy như có điều gì chưa hài hòa, như một sắc màu quá chói trên tĩnh tại rêu xanh.
- Ôi, cảm nghĩ như ri nghĩa là Gia này đã Gia Huyền rồi, Gia Huyền thiệt rồi hà hà…
Gia chậm bước đi đến bên hòn non bộ.
thanhdalat
1/9/2012

4 thg 10, 2010

Mấy ngày nghỉ hè ở Huế - 5. ĐÙA VUI VỚI BIỂN


Hải tặc? (ảnh mờ vì phó nhòm sợ quá run tay)

 
Kỳ phép hè năm nay của tôi bị rút ngắn vì một lý do không đâu, vì vậy thời gian ở Huế trở nên quý báu. Tôi “tranh thủ” bất kỳ cơ hội nào để được đi ngoạn cảnh ở nơi xa ngoài thành phố với bạn bè. Mình thì rảnh rỗi nhưng bạn bè thì phải tất bật mưu sinh, lại còn vợ bìu con ríu nữa chứ. Bởi rứa, để có bạn cùng đi không phải dễ dàng như thuở học trò.

Sáng nay, đang ngồi ngoài sân ngắm nhìn mấy giò lan rỡn nắng thì nghe điện thoại reo – tiếng reo vui hơn mọi ngày. Tôi vào nhà lấy máy nghe. Giọng Tô:
-Đi biển không?
-Đi, đi chứ. Đang không biết làm chi đây. Tui vội nói như sợ Tô đổi ý.
-Rứa thì gọi Đính nghe.
Cuộc chơi đã khởi động. Những đầu việc xuât hiện: liên lạc tập hợp chiến hữu,


 chuẩn bị hành trang, lên kế hoạch, phác thảo lộ trình,…
**
8 giờ nhóm ba người chúng tôi lên đường, nhắm hướng Thái Bình Dương xuất phát. Lộ trình : Qua cầu Tràng Tiền, xuôi Đập Đá, qua Vĩ Giạ, chợ Mai, chợ Nọ là đến Thuận An.
Trước khi ra biển cửa Thuận, chúng tôi ghé qua làng An Bằng, nơi có thành phố mới tạo dựng ven bờ biển. Dưới nắng mai, thành phố càng thêm rực rỡ sắc màu. Những mái nhà kiểu cổ với những đường nét rồng chầu phượng múa chen nhau khoe vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ.
Chúng tôi tìm chỗ dựng xe, thật là một việc nhọc nhằn khi phải xoay trở trên vùng đất cát trắng. Tô dựng xe xong, đi vội vào thành phố không người, đưa máy ảnh chụp mấy pô. Tôi và Đính đi đến những phía khác tìm một góc độ thích hợp để thu lấy cho được cái hồn thành phố - một thành phố yên ắng nhưng không buồn, không gợi cảm giác u trầm, tịch lặng như ở lăng mộ các vua triều Nguyễn, có lẽ bởi màu sắc rực rỡ và mới mẻ của nó- thành phố lăng mộ bên bờ biển đông.
Thành phố lăng bắt đầu được xây dựng ồ ạt từ năm 1991. Người dân làng có bà con định cư ở nước ngoài làm ăn khá giả gởi tiền về xây lăng mộ như là một cách báo hiếu. Mộ càng to lớn được hiểu như là chữ hiếu càng cao. Có đến 70% người làng định cư ở nước ngoài, do đó việc xây lăng có điều kiện phát triển như nấm sau mưa.  Cả một phong trào thi đua bày tỏ chữ hiếu tự phát diễn ra rầm rộ lôi kéo cả những gia đình nghèo vào cuộc. Việc đua nhau xây lăng mộ còn là cách thể hiện “đẳng cấp” của nhà mình và dòng họ trong cộng đồng làng xã. Bởi thế có người bán đất để xây một cái lăng mộ lớn cho “bằng chị bằng em”dù nhà ở cho mình thì chỉ là mái lá lụp xụp. Tính ra , có đến mấy nghìn cái lăng được xây, tổn phí mỗi lăng, ít thì 150 triệu, nhiều thì đến hơn 2 tỉ đồng.
 (ảnh : Net)
Việc xây lăng và chạm trổ hầu hết đều do các tay thợ trong làng làm, rất khéo tay và chuyên nghiệp. Ở đây người ta có thể thấy hội tụ nghệ thuật điêu khắc đá, vẽ tranh, hoa văn và kỹ thuật gắn miếng vỡ từ loại chén bát có men ở trình độ cao. Không phải vô cớ mà thành phố lăng ven biển này có sức thu hút du khách thập phương một cách mạnh mẽ. Bà Help Charity, một du khách đến từ nước Anh nói: “ Những đường nét rất tinh tế, nó mang một vẻ tự nhiên…Đó là những nét đẹp đầu tiên thu hút tôi tới đây”.(VTV)
  
Tôi đứng giữa thành phố lăng mộ mà không có cảm giác đìu hiu u trầm. Quả là lạ. Điều này dấy lên trong tôi ý nghĩ : Phải chăng thành phố lăng là sự hiển thị một quan niệm mới về lẽ sống chết? Và việc xây lăng thật to, thật cầu kỳ phải chăng là vì người sống hơn là vì người đã khuất?
***
Bỏ lại cho thành phố lăng những suy tư tâm linh, chúng tôi chạy xe về phía biển nắng. Tô đưa chúng tôi đi vào xóm, đến nhà người bà con để mượn những đồ nhà bếp: son, chảo, chén đũa, bếp ga,… rồi qua cảng cá Thuận An cách đó 3 km. Đã 10 giờ, cảng cá sáng ngời dưới nắng. Có năm chiếc thuyền đánh cá lớn neo đậu. Người mua kẻ bán xôn xao. Chúng tôi hòa vào đám đông, đi đến tận những con thuyền cập cảng đang chuyển cá xuống bến. Việc mua bán diễn ra ngay đó. Những giỏ cá bằng nhựa đầy vun. Mỗi giỏ đựng một loại cá. Tô mua một kg cá ngân tươi rói. Tôi và Đính cũng sục sạo từ thuyền này sang thuyền khác, nghiêng nghiêng ngó ngó như muốn thu hết cảnh sinh hoạt nhộn nhịp của cảng cá. Bởi đây là lần đầu tiên tôi và Đính được chứng kiến và tham gia như một người buôn cá “dỏm”, hay nói theo cách người dân ở cảng cá tưởng nhầm-chúng tôi là những phóng viên ( mà thiệt ra, cũng “dỏm” luôn). Hic.
    
Vũ điệu SONG NGƯ                                                       Đi chợ về

Căn lều chúng tôi thuê ở vị trí tương đối gần lối vào bãi biển. Nắng trưa chói chang như muốn xuyên qua hai lớp vải bạt trên mái. Gió lộng thổi căng, tấm vải bạt che bên phía nắng như cánh buồm no gió. Biển sáng trước mặt. Cả một bát ngát, mênh mông phơi phới ùa vào lòng chúng tôi. Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, bọn tôi đã gần như người nguyên thủy. Có khác hơn họ chăng chỉ là cái quần xà lỏn mỏng manh. Vậy mà dì gió còn tinh quái thổi mạnh khiến vải quần ôm sát rạt vào da thịt. Ô, mà cũng chẳng là vấn đề gì, vì tụi tui đều là liền ông cả ha ha ha…
Rồi, không “trì hoãn thêm phút giây sung sướng”* nào nữa, chúng tôi tẻn tèn ten lao ngay xuống biển, hụp đầu vào đại dương mát rượi, nhoài người bơi nhẹ theo sóng từng đợt dập dờn… Đầu óc rỗng rang. Bao nhiêu ưu tư như đã gởi trả cho phố phường. Chúng tôi vui đùa với sóng-như trẻ con. Sóng biển từng đợt, từng đợt gột rửa sạch những tạp niệm từng làm khổ tâm hồn chúng tôi. Tâm hồn chúng tôi đã như người nguyên thủy. Giữa thiên nhiên biển rộng tâm hồn chúng tôi sạch sẽ và thể xác chúng tôi cũng thảnh thơi. Cái quần đùi xà lỏn mỏng manh còn lại không hề gây cảm giác cản trở chúng tôi đến với tự nhiên.
Bữa ăn trưa dã ngoại chúng tôi tự làm bếp, như hướng đạo sinh, thật tuyệt vời. Cá tươi luộc chín , không có gia vị nhưng vị ngọt tự nhiên đậm đà không sao tả xiết. Chúng tôi mua thêm ít bánh bột lọc, đậu phụng luộc để lai rai. Một két bia Huda để sẵn giúp giải khát sau mỗi miếng mồi.
 
Như thể từng đợt sóng xô vào bờ, chúng tôi hết lai rai với bia lại nhào xuống chơi với biển, chơi bưa sức với biển lại chạy lên bờ lai rai với bia, hết lai rai với bia lại nhao xuống đùa vui với biển, chơi bưa sức với biển lại lên bờ lai rai với bia…
Khi đã đủ vui và đủ mệt, tôi lên bờ ngồi nhìn ra biển. Trong lều Tô thiu thiu ngủ, Đính cầm máy ảnh đi săn ảnh. Từ xa, dáng còm nhom của Đính thoắt biến thoắt hiện bên những người đẹp tóc vàng cao lớn, thân hình nở nang đang giỡn sóng mép bờ. Tôi vẫn chưa rời những con sóng. Ngồi sát bờ nước, tôi để những lượn sóng tràn qua người. Có những lượn sóng lớn đẩy lùi tôi ra sau. Bỗng nhớ những lời ca về biển của Trịnh Công Sơn.

Biển sóng,biển sóng đừng xô tôi…
Đừng xô tôi ngã dưới chân người…
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi…
Đừng cho tôi thấy hết tim người…

Trịnh nhìn sóng với cái nhìn thật lạ. Với ông, sóng biển là hình ảnh sóng tình . Ông viết: “Những đợt sóng tình xô đẩy ta, làm ta đau khổ. Ta phải đẩy lùi lại nhưng với một tấm lòng khoan dung, nhân ái để thoát khỏi khỏ đau. Và mơ ước sóng với ta cùng sống hoà hợp, hiền hoà trong đời sống ngắn ngủi, mỏng manh này”.
Biển sóng, biển sóng, đừng xô nhau…
Ta  xô biển lại , sóng về đâu…
Biển sóng, biển sóng đừng trôi xa
Bao năm chờ đợi sóng gần ta…
Một buổi sáng nhìn biển, ông chợt nhận ra: những con sóng tình này dìm chết người giữa dòng tình, giữa bể ái nhưng nó cũng giúp đưa người qua bến bờ giác ngộ.

Một lần khác, trước biển khơi xôn xao bao người giỡn sóng, chỉ có Trịnh nhìn thấy:
Có người im lặng,
có người vui đùa, giữa cuộc vui
Biển ơi!
em đùa đùa chơi à.. ơi
Bờ xa có người im lặng. Biển ơi!

Biển ơi! Có người im lặng
Biển ơi! Có người muôn trùng
Biển ơi! Có người im lặng
Biển ơi! Có người muôn trùng
Biển ơi! Có người vui đùa
Biển ơi! Có người xa vắng.

(Muôn trùng biển ơi) 
Trịnh cô đơn quá, ngay cả khi đứng trước biển đầy nắng và gió trùng khơi. Còn tôi? Phải chăng tôi đã an lạc trước biển? Không, chỉ là một ngày mượn nắng và gió và biển và sóng để ru giấc chiêm bao mà thôi.
*
Đến 3 giờ chiều thì chúng tôi cũng đã đủ đen giòn để mang nắng gió của biển về nhà. Khi chuẩn bị nhổ neo thì có một thuyền cá cập bờ. Chúng tôi chạy tới – như thể phóng viên. Chụp hình. Nghiêng nghiêng ngó ngó. Đính mua 2 ký ghẹ, tui một ký cá. Thật đúng là những gã đàn ông tốt. Đó là những món mà chúng tôi đem về nhà cho người thân như để chia sẻ ít nhiều niềm vui của một ngày đi biển.

***
Trên đường về, chúng tôi còn cố kiếm lời bằng cách nhét vào hành trang đi biển của chúng tôi thêm một món nữa: đi thăm ngôi tháp Chàm vừa mới được phát hiện mấy năm trước đây.
Đó là Tháp Chăm Mỹ Khánh (ở thôn Mỹ Khánh, xã Phú Diên, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế), sau đổi tên là Tháp Chăm Phú Diên. Ngôi tháp này đã bị vùi lấp dưới một đồi cát ven bờ biển suốt mấy trăm năm trước. Tháng 4/2001, khi đang khai thác quặng Titan dọc bờ biển xã Phú Diên, người ta phát hiện một khối gạch lớn vùi sâu 8m trong lòng cát. Đó chính là một trong những tháp Chàm cổ nhất Việt Nam đứng ở độ cao hơn mực nước biển chỉ có 1,8 m và cách mép nước khoảng 100 m. (Đây là một điều khiến nhà khảo cổ lưu ý, vì hầu hết tháp Chàm đều được xây dựng trên những ngọn đồi cao).
 
Tháp được xác định niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 8, tức là được xây dựng cách đây 12 thế kỷ. Lúc đó nước ta đang là thời kỳ Bắc thuộc; Chăm pa, thời kỳ đó là Vương triều Panduranga (còn gọi là Hoàn Vương quốc), một đất nước hùng mạnh, đã hai lần tấn công châu Hoan và châu Ái (Thanh Hóa , Nghệ An) nước ta, mang về nhiều phẩm vật. Ngôi Tháp Chàm Phú Diên là dấu tích của người Chăm thời kỳ hưng thịnh đó. Khi chúng tôi đến thì ngôi tháp đã có nhiều dấu hiệu xuống cấp. Nguyên nhân một phần do sự bất cập về công tác bảo tồn, phần khác còn do người dân lấy đất trên tường của tháp để làm thuốc chữa bệnh.

Dưới nắng xế chiều vàng, gió biển lao xao hàng thông ven bờ biển vắng, tôi đứng lặng yên trước ngôi tháp cổ xưa mà lòng tràn ngập niềm ngưỡng vọng. Ngưỡng vọng trước cái tuổi già 12 thế kỷ của tháp, càng ngưỡng vọng hơn trước nét đẹp tinh xảo của công trình kiến trúc cổ, ngưỡng vọng những bàn tay tài hoa đã làm nên nó. Tưởng như thấy những dáng hình vũ công khắc nổi trên các tháp Chàm đang uốn lượn nhịp nhàng. Nơi đây hàng ngàn năm trước đã có hàng đoàn người vào đây cúng bái, ca múa , đã có những ngày  rộn ràng lễ hội. Nhưng chiều  nay, khi tôi đến nơi này thì, than ôi
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ…**
 
***
Tưởng như Ngôi tháp Chàm in bóng suốt trên đường về, nhưng khi đi ngang Vĩ Dạ thì những hàng cau thôn Vĩ đã kéo tâm hồn chúng tôi về một thế giới khác, thế giới của một thời thơ ca lãng mạn đẹp đẽ . Mới ngày nào Hàn Mặc Tử đã qua đây, đã buồn vui những ngày thôn Vỹ. Chừ đây, nắng cũng thắp sáng hàng cau và cũng đem lại niềm vui, niềm vui nhẹ nhàng của một buổi chiều ngoại ô êm ả.
 Hàng cau Vĩ Dạ đã đi vào thơ ca lãng mạn, nhưng ít ai biết, có một hàng cau khác, ở thôn láng giềng của thôn Vỹ đã đi vào thơ ca dân gian từ thời xưa với nét cười hóm hỉnh:
Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau.***
Tôi khẽ cười khi tưởng tượng tới cái cảnh ngộ nghĩnh đó.
Rứa đó, chuyến đi biển của tui trong MẤY NGÀY NGHỈ HÈ Ở HUẾ đã kết thúc với nốt nhạc vui.

th@nhdalat
28/9/2010
 ...................................................
 *Chữ dùng của Vũ Trọng Phụng.
**Ông Đồ - Vũ Đình Liên.
***Ở lỗ: ở truồng.(ăn lông ở lỗ). Nam Phổ: Một thôn nhỏ bên cạnh thôn Vĩ Giạ, có món ăn nổi tiếng xứ Huế: Bánh canh Nam Phổ.