23 thg 5, 2013

Ăn vụng táo (truyện vui)


Sáng chủ nhật, ở một bàn cà phê, giữa vườn Bích Câu.
Thầy Sen đang nói say sưa về về con đường đi đến an lạc, về cái đạo lý “ăn quýt”. (1).
Mai kể lại cuộc hành trình xuyên Việt thú vị với những cảnh đẹp của núi sông, thành quách, với những món ăn ba miền hấp dẫn,…
Phú và anh Ba Vĩnh ưu tư về hòa bình thế giới,về thực trạng giáo dục Việt Nam,…
Rôn cười cười, gật gật tỏ ra quan tâm đến mọi chuyện, nhưng thật ra anh ta đang bận tâm vì một chuyện gì khác không có trong buổi sáng này tại nơi này. Nét mặt Rôn trông thật khó coi, khi thì rạng rỡ lấp lánh niềm vui, khi thì nhăn nhó, rầu rĩ, cau có, không ăn nhập gì với chuyện đang diễn ra quanh bàn cà phê hiện tại. Hình như Rôn đang trải qua một chuyện gì cay đắng lắm.



Đang chuyện trò rôm rả , thì tâm trí của Rôn bắt đầu cựa quậy, bắt đầu nhảy nhót như con vượn trong chuồng sắt sở thú. Tin nhắn của NÀNG từ hai hôm trước bất chợt hiện ra:
Có dịp về miền Trung, nếu anh dừng chân ở Thừa Thiên, em sẽ đưa anh lên núi Bạch Mã, nhìn ra biển , phong cảnh biển trời tuyệt đẹp anh ơi.

…  Thế là, mặc cho mọi người buồn vui những câu chuyện bên bàn cà phê, dòng tin nhắn của nàng bắt đầu dẫn dắt trí tưởng của Rôn đi xa… Rôn rời bỏ “trái quýt” đang có để đi tìm một thứ quả ngọt khác.

 Hôm ấy nhân có mấy ngày nghỉ lễ rảnh rỗi, Rôn quyết định đi ra Trung một chuyến. Như lời hẹn với nàng, Rôn xuống xe ở Phú Lộc (Thừa Thiên)
 Trước mắt Rôn : nàng duyên dáng với bộ-váy-nhiều-điểm-nhấn đứng bên đường chờ chàng bước xuống xe với nụ cười tươi tắn. Đây là lần gặp đầu tiên trong đời thực của hai blogger thân quen từ lâu trên mạng ảo. Có tia sáng lấp lánh trong đôi mắt to đen láy như mắt người Ấn Độ của nàng. Như chàng vẫn tưởng tượng từ những bức ảnh nàng trên blog minh họa cho các bài viết của nàng, bây giờ thì nàng đang đứng đó, bên đường, đẹp rực rỡ trong ánh nắng chiều.
-Em chờ anh lâu chưa?
-Dạ cũng mới anh à,…Nàng cười: Chừng nửa tiếng thôi…
Đúng là cái điệu nói vui nàng vẫn thường thể hiện trong blog của nàng mà Rôn rất yêu. Cả hai lên núi chơi ngay sau khi ngồi chuyện trò một lát trong quán nước bên đường. Đường đi quanh co gập ghềnh nhưng thú vị với hoa dại, cỏ lạ và những chú sóc nâu thỉnh thoảng phóng vụt qua đường, những tảng đá lạ và đẹp như mời mọc khách qua đường tạm nghỉ chân, Rôn thích ngồi bên nàng trên những tảng đá mát lạnh vì muốn kéo dài thời gian cho đôi mắt lặng lẽ ngắm nàng. Ở nơi thiên nhiên hoang sơ, nàng hồn nhiên ngả lưng trên một phiến đá phẳng, ngắm mây trời và lắng nghe tiếng nhạc rừng hòa tấu chung quanh. Hầu như nàng quên có một ông bạn ngồi bên cạnh, mặc cho Rôn ngắm nhìn và nghĩ ngợi linh tinh lang tang,…



Nhưng chỉ thế thôi, mặc dù chàng muốn có những cử chỉ thân ái hơn, nhưng “sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?” nên mỗi khi lòng xao xuyến quá, chàng lại vội vàng đứng lên: “Thôi mình đi em, chiều tối rồi đó”. Và ngượng nghịu đón nhận cái nhìn ngưỡng mộ của nàng về sự đứng đắn bất ngờ mà chàng vừa “diễn”. Thà thế còn hơn phải nghe nàng chê cười “Đàn ông gì mà khờ quá!” Rôn nghĩ.


 Lối mòn lên núi thỉnh thoảng bị những con suối nhỏ cắt ngang. Đến môt con suối rộng, Rôn và nàng dừng lại. Rôn lấy đà nhảy qua trước, nàng còn chần chừ bên kia, nàng đang tìm lối qua ở đâu đó mà những lần trước nàng vẫn đi. Đôi má nàng ửng lên dưới nắng, mấy giọt mồ hôi rơm rớm càng làm nàng đáng yêu hơn.
-      Nhảy đại qua đi, suối hẹp mà em!
-      Em sợ!
Ôi, tiếng “sợ” ngân dài, vừa trĩu xuống đã vút lên duyên dáng làm sao! Không cầm lòng được, Rôn lại nhảy trở về, đứng bên nàng. Nàng níu cánh tay Rôn, đôi môi mọng nũng nịu quyến rũ,…

Trái táo ngon lành và quyến rũ!

Rôn nghiêng đầu xuống, anh nhắm mắt lại…
“Bốp”,
cú tát mạnh khiến Rôn bật người ra sau, loạng choạng suýt té. Rôn ôm mặt, nỗi cáu giận dâng lên.

-Trái cấm (2) A Dam nghe lời dụ dỗ của Eva mà ăn là trái cây gì thế nhỉ?
Rôn giật mình. Đó là câu hỏi của thầy Sen dành cho Rôn. Rôn quay lại với thực tại, ánh mắt thầy Sen đang xoáy vào Rôn như  một dấu hỏi… Rôn bẻn lẻn như chú bé ăn vụng bị bắt gặp. Nhưng, không có gì đáng ngại. Chỉ là câu hỏi trong khi nói chuyện về Kinh Thánh của thầy Sen thôi, chứ không liên quan gì đến chuyến đi chơi núi Bạch Mã và việc ăn vụng táo trong mộng tưởng của Rôn vừa rồi. Ngồi quanh bàn cà phê là những gương mặt bạn bè thân quen: cư sĩ Sen, chúng tôi vẫn yêu mến gọi là thầy (vì anh thích “nói triết”)với đôi chút trêu đùa; anh Vĩnh, cô giáo Mai, Phú,.. đều là người cùng xóm blog vui vẻ tốt bụng cả.
-Trái cấm ông A Dam nghe Eva xúi dại ăn phải là trái táo chứ gì.
Mai cười nói. Phú tiếp: Đúng rồi, hèn chi bây giờ quả táo logo của hãng Apple bị mất đi một miếng!

Cả mấy cái miệng cùng nhoẻn cười. Tiếng cười sảng khoái vui vẻ.
Buổi sáng trôi qua như thế đó. Đó là những giờ phút hạnh phúc của một ngày nghỉ sau một tuần làm việc, là trái quýt ngon lành ta được mời thưởng thức. Rôn nghĩ. Vậy mà ta đã có một lúc rời bỏ cái hạnh phúc đơn sơ mà có thực đó để đuổi theo mộng ảo, kiếm tìm hạnh phúc mơ hồ, vu vơ. Vu vơ đến nỗi chưa kịp cắn vào trái táo đã phải ăn một cái tát tóe lửa! (Quả là:
Cầm cương tay níu tay ghì
Ngựa đi đằng ngựa, người đi đằng người! ( là bị ngựa đá văng xuống đất ấy ).

.



Bây giờ thì Rôn lặng nhìn bạn bè, lắng nghe họ nói cười, chia sẻ ưu tư chuyện đời, say ngắm cỏ hoa chung quanh, gậm nhấm từng phút giây êm đềm của buổi sáng đẹp trời ngồi bên bạn bè thân ái. Rôn nhấm nháp hương vị của phần còn lại của trái quýt mà vì mươi phút không "an trú trong hiện tại” anh đã bỏ qua mấy múi.
Phú đưa đề nghị về một chuyến đi công tác từ thiện ở một làng quê xa vào chủ nhật tới, một đề tài mới mở ra, một cánh cửa mới của cuộc sống cũng vừa được mở ra…Rôn quay sang Phú vội đến nỗi suýt làm đổ ly cà phê trên bàn…
Tôi kéo tay Rôn:
-Thưởng thức cho hết trái quýt hôm nay đã, ông bạn!
thanhdalat
19/5/2013
-------------------------
(1) Đạo lý ăn quýt: trong khi ăn quít ta xúc tiếp thật sự với trái quít, óc ta không suy nghĩ vẫn vơ đến những chuyện khác, chuyện của ngày hôm qua, chuyện của ngày mai, vì tâm ta an trú trong giờ phút hiện tại cho nên trái quít mới thật sự có mặt. mình đang tiếp xúc với hương thơm và vị ngọt của múi quít. (đường xưa mây trắng  chương 19: trái quýt của chánh niệm)
(2) Trái cấm: Cụm từ được dẫn ra từ Sách Sáng thế,[1] nơi Adam và Eve ăn quả "hiểu thiện biết ác " trong Vườn Địa Đàng bất chấp lời răn dạy của thượng đế . Hậu quả , Adam và Eve đánh mất sự trong trắng , bắt đầu xa rời Chúa và bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng . Cụm từ " Trái cấm " thông dụng thường được hiểu như thú vui hay sự đam mê bất hợp pháp hoặc vô đạo đức , tiềm ẩn nguy hiểm khôn lường .[2] Trong một vài sự giải thích , 'quả táo' được coi như một tình huống tình ái, ví dụ như "lần đầu tiên"

28 thg 4, 2013

Chuyện "cây sồi" trong vườn Bích Câu.


Theo lệ, sáng chủ nhật, tôi lại gởi cho An tin nhắn: Bích Câu, 8g30. Ok?
Và cũng theo lệ, An đến sau mươi phút.  Bạn thân gặp nhau hàng tuần, chỉ thấy mặt nhau là vui rồi. Chúng tôi nói chuyện thời sự với nhau trong khi đôi mắt bâng quơ nhìn mây nước.
An không mặn mà nhiều đến “hòa bình thế giới”.  An đã buông bỏ nhiều thứ .Chuyện thời sự thế giới, những nhân vật lớn bé xuất hiện trên màn ảnh nhỏ chỉ là chuyện phiếm để giúp vui buổi cà phê cuối tuần thôi. Đã xa rồi những hẹn hò của thời tuổi trẻ với những ước mơ, những hoài vọng lung linh thì ngồi quán với bạn cũng vui một buổi. Và quán Bích Câu là nơi đem lại cho chúng tôi những buổi thảnh thơi êm ả. 
*
Quán cà phê nằm giữa vườn cây, đá cảnh của hội sinh vật cảnh thành phố, mà vườn cây cảnh lại là một hòn đảo nhỏ giữa hồ Xuân Hương nên cảnh hữu tình, thi vị, thơ mộng vân vân không nói hết. 

Đây lối vào là cây cầu nhỏ, đầu cầu là mấy hòn đá cảnh đẹp màu cổ độ, kia là những bồn hoa vàng, tím, đỏ đung đưa trong nắng tháng ba.

Ở khúc quành gần bên cây cầu nhỏ dẫn ra cổng có mấy chậu cây cảnh thật lớn, những cây trong chậu trông thật kỳ vĩ so với những ngôi nhà, con vật cảnh trong chậu. Cái kỳ vĩ, cao ngạo của sự già nua, cằn cỗi, của một kẻ trải đời nhìn thế hệ trẻ đang hăm hở lao vào đời như côn trùng đua nhau lao vào ánh sáng đèn với đôi mắt nheo nheo khinh bạc. Chung quanh các chậu cây cảnh là những bồn hoa muôn sắc màu, xinh tươi mơn mởn…







Nhìn cội thông cổ thụ già nua, cáu kỉnh trong chậu kiểng rồi hướng về hoa lá mơn mởn rập rờn chung quanh nó, An nói như nói thay cho cội thông cổ thụ: Mùa xuân, tình yêu, hạnh phúc – làm sao cái điều dối trá khờ khạo và điên rồ như thế mà mãi các người vẫn không chán; quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có thế, và vẫn chỉ là một sự dối trá mà thôi!...
Lời nói nghe quen quen, a, chính là lời cây sồi nói với cây cỏ tươi xanh ( và cũng là lời Andrei, một nhân vật trong tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình") khi chàng đi qua cánh rừng mùa xuân ở nước Nga cách nay đã mấy trăm năm, lúc ấy, Andrei vừa bình phục sau khi bị thương từ một trận đánh lớn. Thế trận phe chàng tan vỡ và lý tưởng về cuộc chiến cũng tan vỡ vì chàng đã nhận rõ những xấu xa và những mưu đồ cá nhân thấp hèn trong hàng ngũ tướng tá. Từ đó Andrei không thiết gì đến công danh, sự nghiệp…Trong tâm trạng đó chàng gặp cây sồi này.
Câu nói của cây sồi cổ thụ bi quan đến mức tôi phải cau mày. Nhìn cội thông cô đơn mà khinh bạc, tôi nói: Phải, làm gì có mùa xuân, tình yêu, hạnh phúc trên chậu cây cảnh đẹp đẽ, quý phái trị giá hàng trăm triệu như nơi đây! Cội thông cằn cỗi kia, mi hãy gieo trong gió những hạt giống bay đến một bờ bãi hoang dại đằng xa kia, mi hãy từ bỏ cái điệu khinh khỉnh, lạnh lùng để bước xuống khỏi bồn cây cảnh, đến với cỏ hoa đang vui đùa quanh mi may ra mi mới có một mùa xuân mới thôi. 
Như tiếp lời tôi, trong đám cỏ non bên dưới chân chậu kiểng, những đóa hoa diếp dại vàng tươi đang nở nụ cười hồn nhiên, mộc mạc mà tươi tắn đón gió xuân.


Mặc An bâng khuâng với những cội thông cau có, (cũng là cây sồi cằn cỗi khó chịu và bi quan trong "Chiến tranh và hòa bình, tiểu thuyết của văn hào Leo Tolstoy) tôi và bạn sẽ cứ đến Bích Câu mỗi sáng Chủ Nhật, với cỏ hoa và cây đá đua chen khoe vẻ đẹp muôn màu. 
Nơi đây có chỗ cho người lớn ngồi thảnh thơi giữa cảnh thiên nhiên xinh đẹp, 

có bãi cỏ rộng cho trẻ con chạy nhảy chơi đùa. 

Đây sẽ là nơi tôi sung sướng được khoe với bạn bè từ xa đến thăm phố núi.




thanhdalat
28/04/2013

-------------
(*) Chiến tranh và hòa bình -Leo Tolstoy

14 thg 4, 2013

LÀM DÂU XỨ HUẾ. (Truyện vui của Thùy An)



Thùy An
Lấy chồng xứ Huế
                                       Truyện vui

1. Quen Khanh đã ba năm, tôi không hề biết anh là người Huế. Anh nói tiếng Nam ngọt xớt. Những danh từ rất Nam bộ như “hưỡn”, “xí xọn”… anh đều hiểu rõ và đôi khi còn áp dụng vào những câu chuyện khôi hài rất có duyên. Cho đến khi tình cảm hai đứa chín muồi, Khanh ngõ ý:
     -Ba me anh muốn biết mặt em.
     Tôi theo Khanh về nhà trong tâm trạng vô cùng hồi hộp. Dù đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi vẫn cảm thấy bối rối, chân tay thừa thải trước tia nhìn vừa dịu dàng vừa soi mói của mẹ Khanh. Đó là người phụ nữ ngoài năm mươi, gương mặt tròn trịa, nước da trắng mịn phảng phất vài nếp nhăn nơi đuôi mắt. Tóc bà nhuộm màu nâu đen, được bới cao, cài trâm đồi mồi trông rất quí phái. Bà trang điểm nhẹ nhàng, một chút phấn hồng và môi son màu nhạt.
     -Thưa mẹ, đây là Kiều Tiên, bạn gái của con.
     Nụ cười của bà thật tươi:
     -Kiều Tiên à? Cái tên dễ thương hí. Ngồi chơi đi cháu. Chờ bác một chút.
     Bà đứng dậy đi vào trong, để lại tôi ngơ ngác sau khi nghe một loạt âm thanh líu lo như chim hót. Khanh nheo mắt:
     -Sao? Không hiểu à? Anh đã nói rồi, gia đình anh người Huế, vậy mà không tin. Em có phải là chắt nội của Tào Tháo không đó?
     Mẹ Khanh ra, trên tay bưng một cái dĩa hình bầu dục tráng men xanh. Bà đến gần tôi, đặt dĩa lên bàn:
     -Ăn đông sương với bác cho vui.
     Đông sương? Không phải. Đó là những miếng thạch dày khoảng hai phân, được cắt thành từng miếng hình thoi bằng ba ngón tay. Rải rác giữa lớp thạch trong suốt là những khối vuông nhỏ màu trắng, đen, nâu, cam và xanh lá cây.
     Mẹ Khanh nhìn tôi chăm chú. Hình như bà đang nghĩ, con nhỏ này câm chắc? Và tôi cũng nghĩ, Kiều Tiên, hãy nói một câu gì đi chứ.
     -Cháu cám ơn. Ô, thạch của bác làm đẹp quá.
    Mẹ Khanh vui vẻ:
     -Người Huế gọi thạch là đông sương cháu à. Cháu ăn đi, đừng sợ, bác không dùng màu thực phẩm mô –rồi bà lấy tăm ghim miếng thạch lên săm soi –cháu coi màu nì, màu trắng là sữa, đen là cà phê, nâu là cà phê sữa, lục là nước lá dứa, còn màu gạch là nước cà rốt.
     Màu “gạch” là màu “cam”! Tôi lại học được một từ đặc trưng của Huế. Miếng thạch ngọt thanh tan trên đầu lưỡi, thấm vào lòng tôi những cảm giác dịu êm.
     Cổng nhà Khanh bỗng mở toang. Một người đàn ông trung niên,giống Khanh như tạc phóng xe máy vào. Ông đứng trước thềm, tươi cười nhìn mẹ Khanh rồi chỉ tay vào giỏ xe: một chậu hoa dâm bụt vừa nở hai nụ hàm tiếu màu vàng. Mẹ Khanh đến gần, ngắm nghía:
     -Mình mới mua hả? Ôi bông cẩn vàng, đẹp thiệt đó.
     Tôi tròn mắt. Khanh ghé vào tai tôi:
     -Người Huế gọi “Hoa dâm bụt” là “bông cẩn”.
     Ba Khanh bước vào phòng khách, mẹ Khanh theo sau bảo Khanh:
     -Con bưng chậu hoa xuống rồi đi cất xe cho ba.
     Tôi đứng dậy, vòng tay:
     -Cháu chào bác ạ.
     -Cháu là bạn gái của Khanh phải không? Bác gái nói cho bác biết rồi.
     Ba Khanh ngồi đối diện tôi, hỏi han ân cần. Giọng ông ấm áp, tuy âm sắc hơi nặng, có nhiều từ tôi không hiểu rõ, chỉ lờ mờ đoán ra. Nhưng ánh mắt ấy, cử chỉ ấy đã nói lên một tình cảm chân thành.

2. Tôi nhận lời cầu hôn của Khanh, mặc cho những lời bàn ra tán vào của đám bạn. Thật ra cũng vì thương tôi, nên chúng nó mới đề cao cảnh giác nhiệt tình như thế. Nào là: “Công dung ngôn hạnh mày có được bao nhiêu mà dám uống thuốc liều hở?”, “Làm dâu người Huế khó lắm, mày chịu được sao?”, “Chúng tao khuyên mày nên đi học vài khoá nấu ăn, làm bánh mới đủ sức đối phó.”…
     Tôi bịt hai tai, hét:
     -Chúng mày có im hết đi không? Tình yêu của Khanh đã cho ta đầy đủ mười thành công lực.
     Nói thì oai lắm, nhưng lòng tôi cũng hơi run khi nghe ba Khanh bảo:
     -Đám cưới xong, Khanh nên đưa Kiều Tiên về Huế thăm mệ và mấy O. Xa xôi quá, không ai vào chung vui cùng hai con được. Ba nghĩ là họ rất mong thấy mặt con dâu của ba.
     Tôi lại càng run. Cái gì “mệ”, cái gì “O”?
     Khanh lại “phụ đề Việt ngữ”:
     -Mệ là… bà nội của anh đó. Còn O là hai người em gái của ba.
     -Như vậy “O” có nghĩa là “cô” phải không anh?
     -Đúng. Cho em 10 điểm. Còn “mệ”?
     -Mệ là… bà nội chớ gì.
     -Mệ là bà thôi. Mệ nội, mệ ngoại, là bà nội, bà ngoại.
     -Sao hồi nãy anh nói mệ là bà nội? Tiền hậu bất nhất, cho anh zéro điểm là vừa.
     -OK, anh chịu thua em 1 – 0 đó, bây giờ nghe anh nói tiếp nè.
     -Bộ anh muốn em loạn thần kinh hả?
     Khanh dỗ dành:
     -Nếu em không chịu cho anh truyền thêm nội công thì làm sao ứng phó với bà con nội ngoại của anh ngoài Huế chứ.
     Có lý. Mặc dù tôi chưa quen nghe giọng Huế, nhưng nếu tôi hiểu được những từ người Huế thường dùng, thì sự đồng cảm giữa tôi và “giang sơn nhà chồng” sẽ dễ dàng hơn. Tôi lấy tờ giấy và cây bút:
     -Được rồi, anh nói đi. Em sẽ ghi và học thuộc lòng.
     Khanh phấn chấn ra mặt:
     -Em ngoan quá –rồi tằng hắng –Anh bắt đầu nè. Người Huế từ “mô” là “đâu”, ví dụ “anh đi mô?” có nghĩa là “anh đi đâu?”, “bên ni” là “bên này”, “bên nớ” là “bên kia”, “răng” là “sao”, “rứa” là “thế”, “kiệt” là “hẻm”, “tra” là “già”, “ăn kỵ” là “ăn giỗ”…
     Đầu óc tôi lùng bùng, tay chân tôi quờ quạng. Khanh đặt câu hỏi:
     -Đố em, “ôn” là gì?”
     Tôi xếp giấy lại, thở phào:
     -Anh hết vốn rồi hả? Đố như anh, con nít cũng biết. Ôn là ôn tập chớ gì.
     Khanh kí vào đầu tôi:
     -Cho em xuống học lớp Lá là vừa. “Ôn” là “Ông”. Gặp các ông già, người ta thường “Thưa ôn”, cũng như đối với các bà lão, người ta thường “thưa mệ”…
     Khanh tiếp tục đưa tôi vào mê hồn trận:
     -À, anh nhắc em điều này, nếu thấy một người đàn ông được gọi là “Mệ” thì em cũng đừng ngạc nhiên, vì đó là những người trong hoàng tộc…
     Tôi hét lên:
     -Cái gì? Ôi em bị tẩu hoả nhập ma rồi.

3. “Giang sơn nhà chồng” của tôi toạ lạc giữa một khoảng vườn xanh tốt trong thành nội, gồm ba căn nhà trệt lợp ngói rộng rãi, ngăn cách nhau bởi các dãy hàng rào bằng cây thấp, lá nhỏ, quấn quít những sợi dây leo màu vàng. Khanh nói:
     -Bà nội anh rất thích chăm sóc vườn tược. Hàng rào chè tàu này còn già hơn tuổi của anh nữa đó, còn kia là những dây tơ hồng. Em thấy có đẹp không? Ngày trước, nhà anh chỉ có một căn thôi, sau này hai O lập gia đình, bà nội mới xây thêm hai căn nữa, của hồi môn ấy mà.
     Có tiếng reo:
     -Khanh, cháu Khanh đó phải không?
     Một phụ nữ khoảng trên dưới năm mươi, mặc quần tây nâu, áo hoa sặc sỡ, từ căn nhà bên phải chạy ra. Tóc bà uốn cao, nước da trắng, miệng cười có má lúm đồng tiền.
     -Đây là O Hương của anh.
     -Cháu chào… O ạ.
     O Hương tiến đến gần, vuốt má tôi:
     -Vợ thằng Khanh đây hả. Chà, hai đứa xứng đôi lắm đó nghe –rồi bà kéo tay tôi và Khanh về phía căn nhà giữa –Mạ ơi, vợ chồng Khanh về tới rồi nì.
     Khanh nhìn sang căn nhà bên trái cửa khoá ngoài. O Hương nói:
     -O dượng Hoà về làng ăn kỵ rồi. Chắc là mai mới lên.
     Nãy giờ tôi cố ý lắng nghe. Eureka, tôi đã nhớ. “Ăn kỵ” là “ăn giỗ”, còn “mạ”? Chắc là “mẹ” rồi. Xem ra tiếng Huế đâu có khó gì, khỏi cần Khanh làm thông dịch.
     Bà nội của Khanh rất đẹp lão. Mái tóc bà bạc phơ, gương mặt hồng hào, phúc hậu. Bà đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh ngưỡng cửa, miệng cười móm mém, âu yếm nhìn Khanh đi bên tôi.
     -Chúng cháu chào mệ.
     Bà gật đầu rồi đưa tay níu lấy vai Khanh:
     -Đỡ mệ vô nhà.
     Bà nhỏ bé trong vòng tay Khanh, bước chân bà khập khiểng. Khanh lo lắng:
     -Mệ, mệ bị sao vậy?
     O Hương đỡ lời:
     -Hôm qua mệ ra vườn tưới cây, mệ bị bổ.
     -Im đi, tau bớt rồi –bà nhìn O Hương từ đầu đến chân –mi bận cái áo chi mà loè loẹt rứa? Tra rồi, gần làm mụ gia rồi, còn bày đặt diện.
     Tôi nói nhỏ với Khanh:
     -Em hiểu từ “tra” rồi, nhưng “bổ”là gì? Còn “mụ gia”?
     -“Bổ” là “té”, còn “mụ gia” là “mẹ vợ” hoặc “mẹ chồng”. Xứ Huế anh có câu: “Thương chồng mà khóc mụ gia, chớ tui với mụ chẳng bà con chi.”
     Tôi che miệng cười. Bà nội Khanh ngồi trên sập gụ, vẫy Khanh và tôi lại gần. Bà vuốt tóc tôi:
     -Mệ có coi bóng đám cưới, trông cháu đẹp hơn trong bóng nhiều. Biết hai cháu sắp ra thăm mệ, đêm mô mệ cũng nằm chộ.
     Khanh thông dịch ngay:
     -“Bóng” là “hình”…
     Tôi ngắt lời:
    -Còn “nằm chộ” là “nằm mơ”, đúng không?
     -Very good, em thông minh thật đấy.
     Bà nội Khanh có vẻ thích tôi. Bà kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện, từ chuyện làng xóm, đến chuyện những người trong họ tộc, chuyện gia đình Khanh… giọng bà nhẹ nhàng, thân ái. Vì đã ôn tập trước, nên những từ rặt Huế như răng, mô, tê, rứa… tôi hiểu dễ dàng. Và càng lúc, tôi càng thấy gần gũi bà, thương yêu bà hơn.
     -Cháu biết không? Chồng của cháu rất thích ăn chè thịt quay.
     Chè thịt quay là gì? Tôi nhìn quanh tìm Khanh. Nhưng thôi, khỏi cần thắc mắc, chẳng qua cũng chỉ là món chè bình thường, cứ ăn vào là biết ngay thôi mà. Bà gọi:
     -Hương ơi, lấy cà mèn đi mua chè thịt quay cho các cháu ăn đi con.
     O Hương bảo Khanh:
     -Cháu qua nhà dắt dùm chiếc xe ra cho O.
     -Để cháu chở O đi.
     Khanh đến bên tôi:
     -Em ở nhà với mệ được không?
     Tôi vênh mặt:
     -Anh khỏi lo. Mệ nói gì em cũng hiểu hết.
*
     Tôi đi thơ thẩn trong vườn. Nắng chiều dìu dịu, gió chiều êm ái. Lòng tôi rộn vui theo tiếng chim hót chuyền cành. Hình như bà nội gọi:
     -Vợ thằng Khanh mô rồi?
     Tôi hấp tấp chạy vào:
     -Mệ sai cháu gì ạ?
     -Cháu ra ngoài “cươi” lấy cái “chủi”, “xuốt” dùm mệ cái “dà”.
     -!!!
     Lần này thì tôi thua thật. Khanh ơi, mau về cứu em.

(Rhum sưu tầm)




31 thg 3, 2013

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh


Vì sao con thỏ, quả trứng, giăm bông là những thứ không thể thiếu trong ngày lễ Phục Sinh…

Lễ Phục Sinh là một trong những lễ hội quan trọng nhất của những tín đồ theo đạo Kitô, được tổ chức nhằm tưởng niệm sự kiện Chúa Jesus hồi sinh từ cõi chết trở về sau khi bị đóng đinh xử tử trên Thánh giá. Năm nay, lễ Phục Sinh rơi vào 31/3.

Vào ngày này, người người tặng nhau những món quà hình quả trứng, con thỏ, ăn bữa ăn ngon miệng với thịt giăm bông - những biểu tượng không thể thiếu từ hàng ngàn năm nay. Vậy nguồn gốc và ý nghĩa của những biểu tượng này là gì?
 
1. Lễ Phục Sinh và quả trứng
 
Trứng là biểu tượng nguyên thủy cổ xưa của lễ Phục Sinh. Mỗi khi tới dịp này, nhà nhà, người người đều tặng nhau những quả trứng do chính bản thân mình trang trí, nhằm cầu chúc cho người thân và bạn bè những điều tốt nhất trong cuộc sống.

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 1
Câu trả lời không quá khó như nhiều người nghĩ. Từ thuở đầu nền văn minh, con người đã luôn coi trứng là biểu tượng của sự sinh sản, tái sinh. Người phương Tây tin rằng Trái đất này vốn được nở ra từ một quả trứng khổng lồ. Tại vùng núi Appalachian, những thầy lang xưa từng dùng quả trứng chín, quay trên bụng bà mẹ mang thai, từ đó dự đoán được khả năng sinh sản của đứa trẻ sau này. 

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 2
Vai trò biểu tượng văn hóa của trứng trong cuộc sống ngày một quan trọng. Tục lệ tặng nhau trứng cũng đã hiện diện trong nhiều nền văn minh lớn. 

Các nghiên cứu khảo cổ chứng minh được rằng, người Ai Cập và Su-me cổ có tập tục trang trí trứng làm quà tặng từ ít nhất 5.000 năm về trước. Có lẽ vì những lý do ấy mà  người ta thừa nhận trứng là một biểu tượng không thể thiếu trong ngày lễ Phục Sinh - ngày mừng sự tái sinh của Chúa Jesus.

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 3
Một trong những quả trứng phục sinh đẹp nhất thế giới do thợ kim hoàn Peter Carl Fabergé chế tạo cho Sa Hoàng Nga.
2. Lễ Phục Sinh và con thỏ
 
Giống như trứng, hình ảnh vô cùng phổ biến trong dịp lễ này chính là những chú thỏ. Và bạn cũng băn khoăn vì sao lại thế?

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 4
Trước tiên, với khả năng sinh sản chóng mặt của mình, trong các nền văn hóa, thỏ cũng được coi là biểu tượng của sự sinh sản, sức sống dồi dào mạnh mẽ. Nhưng quan trọng hơn, hình ảnh chú thỏ gắn liền với một truyền thuyết về Ostara (còn gọi là Eastre). Đây là nữ thần của mùa xuân, người được lấy tên đặt cho tên của lễ Phục Sinh (Easter).
Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 5
Chuyện kể rằng, thần Ostara có lần mang mùa xuân tới Trái đất muộn. Điều này khiến muông thú và mọi vật phải chịu cảnh giá lạnh. Khi Ostara tới, thần vô tình thấy một chú chim sắp chết vì hai cánh bị đóng băng. 

Cảm thương, Ostara bèn giải cứu, biến chú chim thành một con thỏ và giữ nó bên mình làm thú cưng. Ostara cũng ban cho thỏ con khả năng đẻ trứng cùng khả năng chạy rất nhanh. Thần muốn chú thỏ sẽ thay người tặng quà trẻ em khi xuân về.

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 6
Nữ thần Ostara và chú thỏ cưng của mình.
Tuy nhiên, sau này, thỏ thần vô tình khiến Ostara nổi giận. Nó bị thần ném lên bầu trời, hóa vào chòm sao Lepus. Một năm, thỏ chỉ được xuống nhân gian một lần vào mùa xuân để tặng những quả trứng đáng yêu cho người dân dưới trần thế. 

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 7

Cũng từ đó, hình ảnh thỏ mang trứng trở thành một nét đặc biệt trong ngày lễ Phục Sinh của phương Tây.
 
3. Lễ Phục Sinh và giăm bông
 
Bên cạnh hình tượng thỏ và trứng thì món giăm bông truyền thống chưa bao giờ vắng mặt trên các bàn ăn của các tín đồ Kitô giáo khắp thế giới vào lễ Phục Sinh. 

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 8

Đối với các tín đồ Công giáo, thịt lợn được coi là món ăn của Chúa. Người phương Tây cổ tin rằng thời điểm Mặt trăng máu (lần trăng tròn đầu tiên của mùa thu) chính là lúc tốt nhất để thu hoạch mùa màng, ướp muối thịt lợn dự trữ. 

Những biểu tượng "thần thánh" trong lễ Phục Sinh 9
Họ cho rằng nếu làm như vậy sẽ có đủ thức ăn cho cả mùa đông lạnh giá. Khi xuân về, họ sẽ sử dụng tất cả những thức ăn tích trữ còn và tổ chức lễ Phục sinh, trong đó thịt lợn muối được dùng làm giăm bông. Có lẽ cũng vì thế mà giăm bông trở thành món ăn truyền thống trên bàn ăn mỗi dịp lễ Phục sinh về.

* Bài viết có sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Wikipedia, RD, Easter.Spike-Jamie...
(Rhum sưu tầm)