9 thg 12, 2012

Những quán cà phê thân thiện ở Huế




Ở Huế chúng tôi thường hay đến một vài quán cà phê quen, mở nhạc xưa hoặc không có nhạc, giá bình dân nhưng cà phê cũng khá ngon, lâu dần thân quen với chủ quán như anh em và quán trở thành quán hẹn hàng tuần, có khi mỗi sáng. Cứ tưởng như hiếm có ở nơi khác, nhưng thật ra tôi biêt những quán cà phê thân thiện này nơi nào cũng có, ở Dalat có quán cà phê Tùng ở khu Hòa Bình, quán 31ở đường Hồ Tùng Mậu. Xa hơn, quán cà phê Tygon ở gần nha Địa Dư cũng rất thân thương, anh Ugno Dalat là chủ xị ở đây, nơi này đã có hân hạnh đón tiếp anh Lục Bình ghé thăm Dalat năm ngoái. Hy vọng sẽ được đọc một bài viết của anh Ugno về cái quán cà phê thân thiện này. Xin trở lại ề à về những quán cà phê thân thiện ở cố đô.
Trước hết, đó là quán cà phê dưới gốc đa cổ thụ ở đường Nguyễn Chí Diễu, nhìn qua khu Lục Bộ ngày xưa (bây giờ là những trụ sở của các cơ quan của tỉnh, phường hoặc là những khu đất trống). Không biết đã được gọi là quán Vĩnh Ba hay chưa vì đây là quán anh Ba nhà ta thường xuyên “ngồi thiền” mỗi sáng hoặc là chỗ anh hẹn gặp bạn bè gần xa của anh, đây cũng là điểm khởi đầu cho những kế hoạch ăn chơi khác trong ngày rảnh rỗi: đi lên Huyền Không Sơn Thượng, leo núi Bạch Mã,… hoặc về đường Trịnh Công Sơn lai rai ở một quán bia bên bờ sông Hương,…
Quán này thân thiện là bởi chủ quán cũng là một giáo chức hưu trí chỉ cần nhìn mặt là thấy gần gũi rồi, lại thêm giá rất thân thiện : một ly có 5 ngàn, mà “ngồi thiền” bao lâu cũng được, luôn luôn có trà nóng miễn phí.


 Sân sau Trung tâm Liễu Quán


 Nhàn đàm hoặc ngồi thiền

Quán thứ hai : Liễu Quán. Gọi tên này là gọi ké Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán trên đường Lê Lợi, bên bờ sông Hương, nơi này có đặt tượng Quán Thế Âm do nhà điêu khắc tài danh Lê Thành Nhơn sáng tác. Quán được mở ở sân sau trung tâm, dưới bóng mát của những tàng cây cao. Ở đây có thể nhìn ra sông Hương hóng gió hoặc nhìn vào những hoa văn dưới mái hiên chùa để “thiền”, nhưng thường thì khi có thêm vài người bạn thì chúng tôi lại sôi nổi chuyện trò về đủ thứ chuyện tầm phào về văn nghệ và văn nghệ sĩ xứ Huế. Mặc dù chúng tôi đều cười về câu hát ngây ngô :”Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được”!
Quán cà phê này thân thiện ở chỗ quy ước ngầm của chúng tôi về cách trả tiền nước. Ai muốn về trước cứ tự đông để tiền lại trên bàn, bao nhiêu đó tùy, sẽ có người trong bàn gom lại, thiếu thì bù, dư thì sung vào “công quỹ” để thỉnh thoảng kéo nhau đi lai rai đâu đó. Muốn gặp và nghe đủ chuyện về đất Huế thì bạn hãy đến đây gặp blogger Butsref .
Quán thứ ba: bên sông Bạch Đằng (tên cũ là sông Hộ Thành), con sông đào thông với sông Hương, bọc bên ngoài thành nội, quán giản dị là cái bàn với vài cái ghế nhựa đặt dưới cội bồ đề lâu năm, khách tự động vào gặp chủ quán (bên kia đường) lấy bàn ghế đem qua và tự động xê dịch ghế ngồi tránh bóng nắng. Chủ quán chỉ làm cái việc đem cà phê, nước trà ra, nhận tiền, khoảng 9 giờ sáng chủ quán lặng lẽ đóng cửa quán đi về sau khi đem gói trà và bình thủy nước sôi cho khách tùy nghi sử dụng, để mặc khách ngồi đến trưa hay…chiều cũng được. Trước khi về khách tự đem bàn ghế vào để trước quán là xong. Uống cà phê hoài thành ra được ngầm xếp vào diện…người nhà!
Nơi này chúng tôi thừa thời gian để nói lan man về chuyện thiền, đạo học Đông phương, đạo sống ở đời và cả chuyện tiếu lâm. Chính nơi này tui gặp một nhân vật kể chuyện tiếu lâm dân gian cười bể bụng là anh Ái (và đáp lại chúng tôi gọi trêu anh là Lao Ái).




 Nhìn về phía cầu lòn (cầu vượt)
 Nhìn về phía cầu Gia Hội

 
 Hoặc mải mê nghe anh Ái kể chuyện tiếu lâm

Một quán cà phê thân thiện đặc biệt khác xin phép cô chủ được nhắc tới, đó là quán cà phê thân thiện chỉ còn trong ký ức người dân Huế một thời là Cà phê Tôn, ở gần cửa Hiển Nhơn, trong Thành Nội. Đây là quán quen của giáo sư và sinh viên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế hồi trước. Nơi này những ngày sau 1975, Rhum thường gặp các ông anh TCS, Đinh Cường, Tôn Thất Văn ngồi nói chuyện sáng tác văn nghệ trong hoàn cảnh mới.Với chúng tôi, quán còn thân thiện hơn vì chủ quán là thân phụ của bạn Kim Ty của chúng ta.
Rảnh rỗi viết lan man vài câu cho vui thế thôi. Nhưng các bạn blogger thân mến nếu có dịp đến Huế mà hợp cái gu thân thiện như rứa thì hãy  hỏi anh npvinhba (tức Vĩnh văn tế) hay Kim Ty để nhàn du một chuyến nhé.
thanhdalat
16/11/2012

13 thg 9, 2012

Hòn non bộ mới




Gia chậm bước đi đến bên hòn non bộ.
Kỳ nghỉ hè năm trước, Gia xây hòn non bộ dưới gốc cây đào cổ thụ. Giữa quần sơn lô nhô là hai cái hồ thông nhau bằng một khe nước hẹp, có cây cầu gỗ bắc ngang, bên cầu có liễu rủ thướt tha, có ông lão lặng lẽ buông câu mặc cho đàn kiến bò quanh chỗ ngồi. Rải rác quanh bờ hồ là những bụi cỏ xanh tạo vẻ mềm mại cho đá núi.
Thường mỗi chiều hè nhàn tản, Gia ngồi bên hòn non bộ ấy thả hồn trong cõi bồng lai, thưởng ngoạn cái công trình nho nhỏ do mình tạo ra với một ít tự mãn của óc tư hữu rằng mình đã tạo ra một thế giới riêng, tĩnh lặng. Đó là một thế giới có sự sống nhưng êm đềm với những chuyển động nhỏ của dăm ba con cá lững lờ, vài cánh bèo trôi nhẹ nhàng như thực như mơ…
 
Nhưng bây giờ... Hòn non bộ đã có bộ mặt khác.
Thay cho hai hồ, hòn non bộ đã có thêm cái hồ thứ ba, quanh hồ lởm chởm những cục xi măng giả sơn. Bên cạnh cây cầu gỗ có thêm một cây cầu bằng xi măng rộng rãi, chắc chắn. Đó là phần đóng góp của chú Quang, em trai của Gia, tô điểm cho hòn non bộ. Phần tô điểm này thể hiện rõ tính cách người tạo tác mới. Quang, dân Kỹ Thuật ( sinh viên cao đẳng Kỹ Thuật cơ điện), làm nghề ít lâu thì bỏ, đi làm thầu xây dựng. Do công việc làm ăn gần đây gặp khó khăn, Quang thất nghiệp gần một năm nay.
Nhìn bộ mặt mới của hòn non bộ, Gia  cảm nhận một nỗi mất mát dâng lên trong lòng . Anh đã mất đi niềm vui của người tạo tác, và tưởng như vừa mất đi cái thế giới êm đềm xưa. Anh lặng người đi một lúc, cay mắt nhìn Quang lăng xăng cho đàn cá đông đảo ăn. Cái bàn tay gân guốc, lực sĩ của chú ấy với cảnh non bồng nước nhược, cái thế giới tĩnh lặng mà chàng tạo ra năm trước thật là một tương phản, nhưng bây giờ, với hòn non bộ mới thì xem ra cũng đã khá phù hợp. Gia đứng dậy, chàng không biết sẽ làm gì trong buổi sáng ngày hè hôm nay nữa. 
 
Gia quay lưng bỏ mặc chú Minh với hòn non bộ và lũ cá háu ăn của chú, chàng lấy xe đi đến nhà An, một người bạn ở Vĩ Giạ.
Ba năm trước, An từ giã Tây Nguyên và cuộc hôn nhân đổ vỡ, anh về quê. Đất vườn rộng và nỗi buồn riêng là điều kiện khiến chàng tạo ra một thế giới mộng sau những giờ dạy hội họa ở một trường trung học trong huyện. Thế giới riêng của anh là một hòn non bộ lớn, chiếm cả một góc vườn. Đó là cái hồ có dạng vuông , mỗi cạnh có khúc giữa lồi ra hình cung. Diện tích mặt hồ rộng chừng 50 m2. Giữa hồ là một hòn non bộ lớn với cây cỏ, rêu xanh, và đủ những Ngư Tiều Canh Mục của một hòn non bộ cổ điển Á Đông. Có lẽ do ảnh hưởng những năm công tác ở Tây Nguyên và vùng Tháp Chàm, An xây thêm ở một cạnh của hồ hai biểu tượng Yoni và Linga. Cái Linga được đặt trên và chính giữa cái Yoni. Cái khe rãnh của Yoni hướng về phía hồ. Hòn non bộ của An là sự dung hợp của hai nền văn hóa phương Đông, mang một quan niệm riêng của An về cuộc đời. Gia không hỏi, chàng cảm nhận điều đó qua niềm đam mê và an lạc của bạn trong lúc tạo dựng và những lúc ngồi lặng yên bên hồ.
 
Mỗi khi xuống thăm bạn, Gia không vào nhà ngồi mà ra đây, uống trà, đánh cờ, nói đủ chuyện vui buồn thế gian…trong tâm thế những triết nhân thoát tục.
Về ngồi nơi cảnh thiên thai này, lòng Gia đã dịu đi, huống chi lại có người bạn, đối với chàng  là một cư sĩ, cư sĩ không chỉ của triết lý Phật giáo mà của văn hóa tư tưởng phương Đông nói chung, người đã để cái tâm của mình ở những cây, đá, rêu xanh mấy năm rồi. Nghe Gia nói chuyện về hòn non bộ mới, An trầm ngâm:
-         Chú Quang đang cần có hòn non bộ riêng cho chú ấy, có lẽ cần hơn Gia nữa đó.
Nhìn mấy đám mây trắng trôi trên bầu không xanh thẳm, An mơ màng:
- Còn mình thì sẽ đến lúc cần cái vườn hơn hòn non bộ này. Chỗ này sẽ là vườn cà, vồng đậu. Chiều chiều mình sẽ ra vườn cuốc cỏ, tưới nước. Bàn tay chai đi, da đen đi, tâm tư sẽ bình dị đơn sơ như người nông dân…


Niềm vui giản dị (ảnh Net)



 
Hoa trái hiền lành (Hoa cà chua - ảnh Net)



*
Nói vài câu chuyện đời, đánh vài ván cờ thì đã chiều, Gia trở về nhà.
Quang đang loay hoay bên hòn non bộ. Chú đang thay nước và thả thêm cá vào hồ. Nhìn cái hòn non bộ lạ lẫm, nỗi bực dọc lại dâng lên trong lòng.
Gia cười khẩy:
-         Hừ, cái hồ ba bể!
Chú Quang ham làm, không nhận ra ý mỉa mai trong cách nói của Gia. Chú khoe:
-         Anh coi mấy con cá vàng đẹp không?
Gia cau mặt:
-         Chú làm như hồ chuyên nuôi cá giống không bằng!
Quang quay nhìn anh, tròn mắt:
-         Mấy con cá cảnh này hiếm lắm nghe, hồi sáng tui lên dòng Thiên An xin thầy Tâm An đó.
Lên nhà dòng tận trên đồi Thiên An? Chú mi mà chơi thân với thầy Tâm An nữa à? Gia chăm chăm nhìn Quang. Bây giờ chàng mới nhận ra những thay đổi trên khuôn mặt chú. Vẻ ngang ngạnh mà chán đời của Quang những ngày thất nghiệp đã biến mất, thay vào đó là nụ cười hiền lành. Gia hỏi:
- Chú đã bỏ rượu rồi à?
- Rượu à, chỉ còn lai rai thôi, ham chơi hòn non bộ quên rượu luôn đó anh.
Chú nói nhẹ nhàng. Trông chú tươi tắn và bình an, Gia thầm nghĩ : Ờ há, Quang đang cần có hòn non bộ của chú ấy, cư sĩ An nói đúng quá, chàng dịu giọng:
-         Hòn non bộ chú sửa lại cũng có cái hay riêng đó. Cá vàng trên chùa đây à, ờ ờ, đẹp lắm.
Gia cùng chú Quang đến bên hồ, ngắm nhìn đàn cá tung tăng bơi lội, rượt đuổi nhau, chen nhau lách qua những khe hẹp. Có một khe cạn, cá muốn lách qua phải ngoi lên gần mặt nước, mà lạ thay, điều đó như kích thích đàn cá thử sức mình, đua nhau “vượt vũ môn”! Vượt qua được thì ngoe ngoẩy đuôi xem ra đắc ý lắm. Cái khe cạn độc đáo này là sáng kiến của chú Quang, thể hiện một quan niệm của chú: Đem sự sống sôi động vào thế giới của hòn non bộ.
Cho cá ăn xong, Quang vớt bỏ mấy cánh bèo vàng úa, nhặt mấy chiếc lá rụng, uốn lại cần câu cho lão ngư,…Mắt chú linh hoạt, bàn tay chú nhanh nhẹn, sự thích thú hiện rõ trên khuôn mặt.
Lặng nhìn chú hăng hái chăm sóc hòn non bộ, bổng nhiên Gia thấy một niềm vui mới dâng lên trong lòng mình. Niềm vui do chính chú Quang đem lại: Chú đã thoát ra tâm trạng buồn chán , mệt mỏi của những ngày thất nghiệp kéo dài. Chú đã bắt đầu lại từ cái hòn non bộ đơn sơ này. Không phải hòn non bộ theo cách nhìn của Gia mà là một hòn non bộ theo cách nghĩ của chú ấy.
Gia thở phào, suýt chút nữa thì những ngày hè thanh thản của ta mất đi chỉ vì mấy cục đá!
thanhdalat
9/9/2012

Dưới đây là hòn non bộ tương lai của An:

 

2 thg 9, 2012

Tiếng rao quen








Huế Xưa. Nhạc Anh Bằng- Ca sĩ Phi Anh

2011
Về lại nhà mấy ngày rồi, buổi sáng vẫn tiếng đào rơi, vẫn dáng thân quen chú Mừng chăm mấy chậu cây cảnh, o Hiệp xuốt sân, mạ lui cui dọn quán, Gia vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì…
Một sáng nọ, đang lượm mấy chiếc lá vàng rơi trên non bộ, bỗng nghe:
- Ai  canh…khô…! (Ai ăn bánh canh không!)
Tiếng rao lảnh lót vọng từ đầu xóm.
Lòng Gia như có tiếng reo.
Đúng rồi, đây đúng là cái thiếu vắng của khu xóm nhỏ mấy hôm nay. Cứ như bản đàn thiếu đi một âm sắc cần thiết, một bức họa chưa có một nét chấm “điểm nhãn”.
Tiếng rao đi trước như một “dự lệnh”, để khi o bánh canh đi đến giữa xóm, đặt gánh xuống thì những khách-ăn-mua-đem-về-nhà đã cầm đoại đứng chờ. Còn những người khác thì cũng vừa đến để ngồi xổm quanh gánh quà sáng quen lệ.
Quen lệ, cứ mỗi sáng, tầm 7g đã nghe tiếng rao và gánh hàng của o đầu xóm. Tên o thật mộc mạc: O Lài bánh canh. O và gánh hàng đi xích lô từ Thủy An – ngôi làng ở bên sông An Cựu chuyên nghề nấu bánh canh – qua xóm Canh Nông, một xóm nhỏ trong Thành Nội này, xa cũng đến 3 km.

 
Thật chẳng bỏ công o đi xa như thế, vì phần nhiều dân các phường trong thành phố đều ưa chuộng bánh canh Thủy An nên hễ cất gánh ra đi thì khi về với gánh không.  Bánh canh Thủy An là món ăn rẻ mà việc chế biến lại là một nghệ thuật của ẩm thực dân dã.
Gia được biết nguyên liệu chính để làm bánh canh là bột gạo. Trước khi giã, bột phải được ngâm kỹ. Đổ bột vào cối rồi giã cho tới lúc “chín”, tức là lúc bột dai mà không dính tay và khi nấu nước không qúa sệt.
Cua đồng giã kỹ, chắt lấy nước cua cho vào nồi nấu đến lúc kết riêu thì vớt ra, cùng với xác cua làm chả. Để thêm chất lượng cho đoại bánh canh, o bỏ thêm vào mỗi đoại một cái trứng cút đã lột vỏ,…
Gia nhìn đoại bánh canh thấy thật bổ dưỡng và hấp dẫn, thầm nghĩ, o nấu như ri mà bán một tô có năm ngàn đồng thì không biết lời cái chỗ mô. Ở Đà Lạt một tô bánh canh rẻ nhất cũng 15 ngàn đồng, hì hì, bánh canh Huế rẻ như ri thì tội chi mình không mần luôn hai đoại cho ấm tình quê hương hè.

Gia  ngồi xề xuống bên gánh hàng của o chờ đến lượt. Trước khi đưa đoại bánh canh cho chàng, o Lài còn múc thêm muỗng nhỏ ớt xào hành cho vào đoại, màu đỏ ớt làm cho bề mặt bánh canh vốn có màu trắng của sợi bánh, màu vàng của riêu cua, màu xanh của hành ngò sinh động hẳn lên. Bưng đoại bánh canh còn nóng hổi, múc một muổng cho vào miệng, nghe sợi bánh canh tan dần, vị  ngọt đằm của riêu cua, vị bùi của trứng cút, vị cay của ớt màu quyện vào nhau đậm đà không bút nào tả xiết. Bánh canh đã trôi xuống bao tử mà dư vị như còn lưu vị giác.

   

Trong khi chờ đoại thứ hai, Gia hỏi o sao mấy hôm không qua bán, o cho biết o đi chơi động Phong Nha với con, cháu. Thằng rể Việt kiều về thăm thuê một chiếc xe hơi đưa cả nhà đi du lịch.
Gia nói:
- Có con gái lấy Việt kiều sung sướng rồi, còn đi bán bánh canh chi cho cực thân hở o.
- Ôi chào, con có phận con, mình có phận mình chú à. Mà ngồi không cũng vô vị lắm, mấy hôm nghỉ bán thấy răng răng đó chú à.
Trông o không khác chi những người phụ nữ bán hàng rong ở cố đô những năm xưa, chỉ thiếu cái áo dài mặc mỗi khi gánh hàng đi bán; món bánh canh của o cũng vậy, chất lượng luôn ổn định, dù bán đắt hay ế cũng chỉ một nồi, bán hết thì về. Bình dị, nhẹ nhàng, thanh thản. Bằng món bánh canh sáng vừa rẻ vừa ngon, o đã đem đến niềm vui cho bà con và vì thế o cũng có niềm hạnh phúc giản dị .
Tạm xa cuộc mưu sinh quay cuồng, về lại xóm nhỏ, ngồi bên gánh bánh canh mộc mạc, Gia như tắm mình trong cõi bình an, thanh thản.
Chàng mong mọi sự trôi êm như thế mãi…
*
2012
Năm nay lại trở về nhà. Buổi sáng vẫn trôi êm như năm trước nhưng, buồn thay, đã thật sự thiếu vắng tiếng rao “Ai canh…khô…”(không) quen thuộc.
O Lài bánh canh đã sang Mỹ định cư với gia đình con gái.
Thay cho tiếng rao lảnh lót xưa là tiếng rao vang vang, trẻ trung:
-  Ai bạnh canh riêu cua đey! Bạnh canh đey!
Cùng với tiếng rao khỏe khoắn là dáng o gánh hàng thoăn thoắt đi nhanh vào ngõ xóm. O bán bánh canh năm nay còn rất trẻ, có cái tên rất đẹp: Diễm. O cùng với gánh hàng đi qua đây bằng xe Honda thồ (trong Nam gọi là xe ôm). Với nụ cười tươi tắn, lời mời chào đon đả, dần dà o cũng chinh phục được cảm tình của người dân xóm nhỏ.
O Diễm không phải người Thủy An, nhưng có bà con gần xa chi đó với o Lài bánh canh. Theo lời o Diễm thì qua bên Mỹ ít lâu, “ Dì Lài than buồn, nhớ làng xóm, nhớ gánh bánh canh, muốn về lắm nhưng còn phải chăm cháu ngoại.”
Gia hình dung nét mặt của o Lài bánh canh ở bên Mỹ mỗi sáng sớm: vẻ bình an của o đã bị cuộc sống tiện nghi mà lạc lõng quê người hằn lên nhiều nét nhăn. Và o phải khổ biết bao nhiêu vì tiếng rao lảnh lót của o bị giam tức nghẹn trong cổ mỗi sáng.
Gia múc vài muỗng bánh canh đưa vào miệng, có ý thưởng thức. Vẫn là món bánh canh riêu cua quen thuộc nhưng không hiểu sao chàng lại có cảm giác mặn và gắt hơn bánh cánh năm trước!
Hình như  Gia vẫn còn nặng tình với cái hương vị bình đạm, dịu nhẹ, êm đềm của những năm xưa.
Khi khách ăn sáng đã vãn, o Diễm quảy gánh lên vai, thoăn thoắt đi qua xóm khác. Từ xa vọng lại tiếng rao trong trẻo, khỏe khoắn:
- Ai bạnh canh riêu cua khô ô ô ng! Bạnh canh riêu cua đey!
Buổi sáng đã có tiếng rao điểm vào không gian yên tĩnh của xóm nhỏ nhưng Gia vẫn thấy như có điều gì chưa hài hòa, như một sắc màu quá chói trên tĩnh tại rêu xanh.
- Ôi, cảm nghĩ như ri nghĩa là Gia này đã Gia Huyền rồi, Gia Huyền thiệt rồi hà hà…
Gia chậm bước đi đến bên hòn non bộ.
thanhdalat
1/9/2012