7 thg 11, 2011

Bệnh dã quỳ






Tháng mười âm lịch đã về, mưa thu vẫn còn kéo rê qua đầu đông dầm dề ướt át những con đường quanh co, những lối dốc rải rác những trái thông khô và làm ẩm mốc những tâm hồn. Một ngày tạnh mưa tôi cưỡi con ngựa nhỏ Sirius đi lên một con phố trên đồi cao, và bất ngờ thấy vàng quỳ lốm đốm ở các triền đồi xa xa. Dầm mình trong cái mưa liên miên bất tuyệt của mưa thu phố núi, dã quỳ vẫn rập rờn phô sức sống trẻ trung, hồn nhiên xanh rì bờ bụi để đầu đông hé nụ đơm hoa – như những nụ cười màu vàng tươi ngầm nói với ta mùa đông tạnh ráo đã trở về. Mà mùa đông phố núi đáng được đón chào bằng nụ cười rực sáng như thế lắm, vì nó có những nét riêng đầy quyến rũ: cái lạnh ngọt ngào, cái nắng ngời ngời. Hồi còn ở Huế nghe câu hát của Trịnh: “…lung linh nắng thủy tinh vàng, chợt hồn buồn dâng mênh mông…” tôi không hình dung ra cái nắng thủy tinh là cái nắng như thế nào, đến khi lên Dalat sinh sống, bất chợt một ngày đầu đông nhìn thấy cái nắng lạnh ngời ngời trong veo tràn ngập không gian  tôi không khỏi kêu lên : nắng thủy tinh!
Sau những đêm ngủ vùi trong chuỗi ngày dài mưa dầm, đã thấy mình “ như con sâu nằm ngủ trong cái tổ cô đơn”, một buổi sáng thức dậy bởi ánh nắng ngập tràn khung cửa sổ, nghe như có tiếng reo trong lòng mình. Ánh nắng đẹp làm sao. Tôi chạy xe qua phố trong màu nắng ngời ngời, rẽ xuống con đường-tạm băng qua hồ Xuân Hương, hình như vì hồ đang cạn nước nên cái nắng ngời tươi đẹp đầu đông không hiện hữu nơi đây. Nhưng khi rời đường tạm để lên con dốc Hồ Tùng Mậu thì một niềm sung sướng ngập tràn cả hồn mình. Con đường dốc cong cong chạy dưới hai hàng thông cao rợp bóng làm cho mặt đường loang lỗ ánh nắng. Con đường đẹp như trong giấc mộng. Tôi lướt thật chậm trên quãng đường dịu mát lụa là đó, lòng lâng lâng. Muốn chụp một tấm hình ghi lại cảnh sắc này trong thời khắc này quá. Nhưng làm sao mà ghi lại được cái êm êm mát dịu, cái màu nắng phai phai nhung nhớ này được. Và làm sao thu vào ống kính cái vẻ hồn nhiên tươi tắn trong nắng đông của bụi dã quỳ ở một góc đường?
Còn nhớ mùa nắng lạnh năm đó, tôi cùng anh Đỗ cưỡi con ngựa ô suzuki ra ngoại ô tìm sắc vàng quỳ. Vừa qua một khúc đường quanh đã thấy triền đồi bên kia thác quỳ vàng nở rộ. Dừng xe đứng ngắm và chụp vài pô ảnh rồi ra phi trường Cam Ly, một phi trường nhỏ đã mấy chục năm không sử dụng. Cả một dãy dài ven con đường dẫn vào phi trường rực một màu vàng quỳ như cố xua đi vẻ hoang phế của ngôi nhà ga cũ kỹ nằm lặng lẽ cùng với cỏ hoang mọc dày.
-Cứ đến mùa quỳ là mình không làm việc gì được, lười đọc sách, lười dịch sách. Trong lòng như nôn nao một nỗi gì…
- Tui cũng vậy đó. Nhìn qua khung cửa thấy màu nắng lên ngời ngời là ngồi nhà không yên. Cái nắng như réo gọi mình.
Và bên kia đồi hoa quỳ như nở ra cùng với nắng nữa chứ!
-Tụi mình mắc cái bệnh như nhau rồi!
-Bệnh gì thế?
-Bệnh dã quỳ!
-Là sao?
- Cái bệnh say mê cái đẹp của hoa dã quỳ mỗi độ đông về như Đan Thiềm mê say cái đẹp kiến trúc đến mang họa đó mà.
-À, đúng rồi, cái “bệnh Đan Thiềm” như Nguyễn Huy Tưởng đã gọi.*
Nhưng cái bệnh dã quỳ thì chỉ đem lại cho tụi mình những phút giây thăng hoa tâm hồn thôi anh à.
Ừ, đúng là cái bệnh đáng yêu, tôi tin rằng không chỉ có tôi và anh Đỗ mới có tâm tình này, hẳn là PN Thương Đoan, Vi Nhật Tảo, Mai Nam,Ngô Kim,… những người đã có duyên nợ văn nghệ với dã quỳ cũng cùng mang một bệnh với chúng tôi mỗi độ mùa đông về trên phố núi.
*
Đó là chuyện của mùa quỳ của những năm đã xa.
Năm nay tôi chỉ đi quanh trong phố để tìm ngắm những bụi dã quỳ còn sót lại ở những bụi bờ mà cuộc sống lao xao bỏ quên, những góc vườn sau của một vài ngôi nhà mà chủ nhân lơ là chăm sóc vườn tược. Anh Đỗ đã sang Canada sống với người thân gần một năm rồi. Ở vùng Bắc Mỹ ấy , trong tiết trời đông lạnh lẽo, co ro trong lớp áo dày nhìn ra một trời tuyết trắng hẳn cái bệnh dã quỳ cũng đang hành hạ con tim nhạy cảm của anh. Tôi biết, dù không có dã quỳ trên các trái đồi tuyết phủ nhưng cái sắc vàng lạ lùng ấy sẽ hiện về trong tâm tưởng của anh, cùng với những câu thơ mà một thời anh vẫn ngâm nga:
“Chiều đông nhường chỗ sáng xuân
Dã quỳ mấy độ vẫn vàng lòng ai.”
(Ngô Kim)
Vàng trong anh một thời
Mùa hoa quỳ Đà lạt”.
(st)

thanhdalat
11/12/2010

----------------------------------------------------------
* Kịch “ Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng.

Dã quỳ mấy độ...

Photobucket


                                                           Mấy độ dã quỳ vàng ngõ trước
                                                          Bao phen gió núi lạnh ngàn thông
                                                                                                               NGŨ HỒ

Ngay từ lúc đến Dalat phố núi tôi đã nhận ra em cùng lúc với tâm trạng bàng hoàng ngây ngất trước nhan sắc kiêu hãnh và tự tin, hồn nhiên phơi vẻ đẹp của mình trong nắng mai: dã quỳ.
Hôm đó, chúng tôi đạp xe vòng vòng thành phố, trên những con đường đã trở nên quen thuộc, lướt qua những khóm hoa muôn màu xen nhau như một bức tranh đẹp quen thuộc của thành phố hoa - cái đẹp của phong cảnh phố núi hiển nhiên đến độ không còn gây cảm xúc gì với chúng tôi, cư dân nơi đây. Thế nhưng, vừa rẽ qua một khúc quanh, đột nhiên, hiện ra trước mắt chúng tôi : vàng rực một vùng đồi, vàng rực suốt cả con đường ngoại ô.  Bụi bờ, đồi hoang bừng lên sắc màu mới, màu của muôn ngàn đóa hoa quỳ lớp lớp chen nhau khoe sắc dưới màu nắng vàng tươi.
Tên em là dã quỳ , bởi em là loài hoa làm đẹp cho bụi bờ, làm đẹp cho những đồi hoang khuất nẻo bằng sắc màu vàng tươi rập rờn theo gió đông. Bụi bờ, đồi hoang trong cái nắng lạnh mùa đông đã cất lên tiếng hát .
Nàng dừng xe, đến bên một bụi dã quỳ, bước đi bềnh bồng trong sắc vàng hoa. Chiếc áo len màu hồng nhạt của nàng hoe vàng và ánh mắt nàng cũng lung linh sắc vàng. Tôi cũng dựng xe bên đường, bước theo nàng với một khoảng cách vừa, để ngắm nhìn “hai chị em” : Tôn Nữ Cúc Quỳ và dã quỳ. Trong sắc nắng vàng tươi, cảnh trước mắt diễn ra như trong mơ. Nàng như từ trong chuyện cổ tích bước ra, tung tăng trên cỏ mềm, phiêu bồng trong nắng và hoa. Tôi chưa từng thấy cảnh thiên nhiên và con người nào hòa hợp đến thế. Sự hòa hợp như đã đạt đến cái đẹp huyền diệu.
Tôi ngần ngại bước tới. Tôi dừng bước, lặng lẽ ngắm nhìn và thở dài trước cái đẹp đang diễn ra và đang trôi qua. Có những cái đẹp mà nếu ta chạm vào, nó sẽ vỡ tan.  Một nhạc sĩ đã cất lên lời ca “ Tôi đang mơ giấc mơ dài, đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh…” Quan hệ tình cảm lứa đôi của tôi và tôn nữ đang đẹp như một giấc mơ,như cảnh diệu huyền tôn nữ bên dã quỳ lúc này, cần có một khoảng cách vừa , để là thiên thu.
Và tôi đã ngần ngại suốt mấy mùa quỳ sau đó,luôn giữ một khoảng cách vừa.
 Photobucket

***

Mùa đông năm nay tôi lại đi tìm dã quỳ.
Tôi đi tìm dã quỳ trên chiếc Sirius, một mình, vì dã quỳ đã theo thời thế mà rủ nhau ra trú ở vùng ngoại ô xa khuất. Dalat đã vươn mình để trở thành đô thị lớn, bê tông và nhựa đường và các loài hoa vương giả đã thay cho những bụi bờ hoang dại, là nơi hứa hẹn những mùa quỳ. Giờ đây, mỗi độ mùa quỳ về, đi xe đạp tìm hoa thì quá mệt.
Quanh co một hồi, tôi cũng đến được một vùng quỳ rộng lớn, đó là lối đi vào phi trường Cam ly nay đã là nơi hoang phế, cỏ hoang rậm rịt. Trước mắt tôi là cả một vạt quỳ thân thương đang rập rờn trước gió đông, nhưng sao trong lòng tôi không còn những cảm xúc thần tiên xưa.
Sau mấy mùa hoa quỳ bên nhau, trong cái đẹp thuần khiết của tình đôi lứa sáng trong và lặng lẽ, nàng đã theo gia đình sang định cư ở Úc. Hôm chia tay, cũng bên bụi dã quỳ vàng tươi, nàng hái tặng tôi một bó hoa quỳ và nói: “ Đừng nhớ tui nhiều nhé, chỉ mong anh mỗi độ quỳ về đi thăm giùm tui là tui vui lắm rồi”. Nụ cười cùng ánh mắt trong veo của nàng làm tôi muốn khóc. Mùi hăng hắc của nhựa quỳ theo tôi vào giấc ngủ cô đơn thao thức.
 Photobucket
Tôi đã không làm theo lời nàng. Không có nàng thì cái đẹp của hoa quỳ đồng nội dường như không còn nét diệu huyền. Rồi những festival hoa với những sắc màu vương giả kiêu kỳ trong vườn, trong chậu tưởng như đã lấp đầy hồn tôi. Nhưng, hôm kia khi nhận được thư nàng cho hay nàng vừa đặt tên con gái đầu lòng là Đông Quỳ tôi mới biết là tâm tình của tôi không như vậy . Cái tên Đông Quỳ làm lòng tôi chùng xuống, vừa mừng vừa tủi. Trong giá lạnh mùa đông, với cổ cao áo kín, tôi lại đi tìm một màu hoa thân thương. Nhưng hỡi ôi, tôi không sao sống lại những mùa quỳ năm cũ, Nắng vẫn ngời ngời nhưng màu quỳ không còn sắc vàng tươi. Những đóa quỳ thưa thớt và tàn úa. Trong nỗi u hoài tôi giật mình sực nhớ : đã cuối đông rồi! đã cuối mùa hoa dã quỳ rồi!
Tôi lại lỡ một mùa hoa.

thanhdalat
2010
(Để nhớ những ngày mới đến với làng blog)

30 thg 10, 2011

Về Huế, hè 2011(7)Đường về quê xa lắc.


(ảnh: Blog Lan An xa xứ)
Rời bến nước làng Sình chúng tôi đi qua cánh đồng lúa rộng. Mùa hè, đồng ruộng đang được cày xới chuẩn bị cho vụ tới. Từ xa có tiếng máy cày rì rầm vọng lại . Nhưng ở miếng ruộng nhỏ cạnh đường làng thì chiếc xe máy cày Kubota lấm lem bùn đất đang nghỉ ngơi dưới nắng.


Nhìn nó tôi liên tưởng tới những con trâu cày. Tôi đưa mắt tìm khắp cánh đồng, chẳng thấy bóng con trâu nào.

Không khéo có ngày trẻ quê không biết con trâu hình dáng thế nào mất.

Photobucket 
Biết đâu, có lúc con trâu chỉ còn được thấy trên những tờ giấy bạc cổ?



Đính và tôi rời chiếc Honda đi săn ảnh. Chiếc Honda đứng trên bờ, đầu xe quay về phía chiếc Kubota đứng lẻ loi dưới ruộng. Trông chúng như hai người bạn lâu ngày hội ngộ, người thì ở chốn quê mùa lam lũ, kẻ thì bấy lâu rong ruổi kinh thành, áo quần choáng lộn, dáng bộ điệu đàng.
   Nhìn kìa, chiếc Kubota dưới ruộng đang đứng nghiêng nhìn xa xôi, dáng cô đơn, nhưng thảnh thơi, chẳng chút mặc cảm thân phận quê mùa. Cô nàng Honda áo quần sạch sẽ, đẹp đẽ , đầu xe quay “nhìn xuống” ông bạn cố tri cùng quê Nhật Bản lấm lem bùn đất lòng đầy trìu mến, và ít nhiều hiếu kỳ, thương cảm.


Tôi đưa máy ảnh lên thu lấy hình ảnh cuộc tao ngộ ngẫu nhiên mà cảm động  không ai nói nên lời này vào bộ nhớ 2 GB cũng từ Nhật Bản đem sang. 

     (Đây là chuyện trên đồng ruộng, ở trong nhà của người nông dân thì cuộc sống chung của xe gắn máy Nhật và anh trai cày Kubota còn cách biệt hơn nữa. Nàng xe óng ả luôn được ông bà chủ chăm sóc cẩn thận, được ở trong nhà gạch sạch sẽ, ấm áp, còn anh trai cày thân phận người cày thuê phải ở nhà sau, nhiều đêm không ngủ được vì tiếng gà gáy, heo kêu, tiếng chuyện trò của những người ra đồng làm việc sớm,...và những đêm mùa đông thì, trừi ưi, lạnh thấu xương, hai đầu gối run lập cập,...).

  Đằng xa, Đính đang chạy theo người nông dân đang điều khiển con trâu sắt rì rì dọc ngang trên đồng ruộng. Cũng là một hình ảnh khác của cuộc tao ngộ giữa kẻ thị thành và chàng trai thôn dã. Trời trưa nắng như đổ lửa, nhưng Đính vẫn lom khom chạy theo, tay đưa máy ảnh  nhắm tới người nông dân trên máy cày. Không biết Đính đã chụp được bao nhiêu hình, nhưng ngắm nghía kỹ quá, tôi ngại sẽ làm cho anh nông dân ngượng ngùng, khó chịu. 


Nhưng coi kìa, anh nông dân vẫn điềm nhiên cày ruộng, không hề bận tâm tới anh chàng trên phố về đang cầm máy ảnh đuổi theo, như người nông dân bao nhiêu thế kỷ trước vẫn an nhiên tự tại trước bao cuộc biến thiên. Tôi lại đưa máy ảnh lên, bấm bấm. Thế là lại có thêm tấm hình nữa cùng đề tài.
Trên đường về, bởi hỏi đường mà gặp thêm nhiều người dân quê khác, anh trai cày đang vác cuốc ra đồng, cậu bé đi học về trên chiếc xe đạp, chị nhà quê đang cỡi chiếc Yamaha chở mấy két bia từ trong làng ra. Ai cũng hồn hậu nhiệt tình chỉ đường, họ thương quý người trên phố về lắm, còn tụi tui , người trên phố về thăm thì thâm tâm vẫn không khỏi có ít nhiều cảm nghĩ “nhìn xuống”.
 
Em bé quê   Diễn viên Tăng Thanh Hà (ảnh : net)


Đính hỏi tôi: Quê anh ở gần đây phải không? Tôi chỉ về phía xa bên kia những lũy tre. Quê Đính cũng gần đâu đó. Hóa ra chúng tôi cũng gốc người nhà quê lên tỉnh vì chiến cuộc, hoặc vì những lý do khác. Thế mà chỉ sau một thế hệ, về lại làng quê chúng tôi lại mang theo quá nhiều mặc cảm.

   Những mặc cảm linh tinh đã làm cho con đường trở về với gốc gác của chính mình thêm xa lắc...
chuồn chuồn

29/10/11

23 thg 10, 2011

Những đoản khúc cuối thu (thơ thanhdalat)

Photobucket
Tháng 9 cao nguyên

Tháng 9 nơi này mưa không dứt
Lũng sâu mờ mịt một màu mây
Nắng gió miền xuôi như nỗi nhớ
Quẩn quanh đèo quạnh quẩn quanh ngày. 
 Photobucket

Gởi bạn đường  xa
(Tặng Hải Yến Xứ Người)
Đất khách muôn trùng mênh mông quá
Quê nhà một dải nhớ khôn nguôi
Lòng thương gởi tình ai sầu xứ
Bên cửa nhìn mây mây cứ trôi…
 Photobucket
Phải đi đâu đó
Những ngày những tháng nối nhau đi
Blog lan man cũng chỉ vì
Mấy đoản văn nhàu, mong đồng cảm.
Dăm vần thơ vụn, đợi tương tri.
Tâm tình kể mãi… nào vơi nhỉ?
Thế sự luận hoài… có được chi?
 Phố núi chiều nay mưa kín lối,
Đường lầy, sương lạnh. Cũng ra đi... 
thanhdalat
25/10/11
Photobucket 

17 thg 10, 2011

Về Huế, hè 2011(6)Thăm lại bến đò xưa

Photobucket
Vừa học bài vừa coi quán

Đò từ Đông Ba
Đò qua Đập Đá,
Đò về Vĩ Giạ
Thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh
Tiếng hò xa vọng
Nhắn  tình nước non…
Mấy câu hò của chí sĩ Phan Bội Châu đã giục tôi về miền quê thăm bến đò làng Sình cách đây hai năm và bây giờ một lần nữa, vào một trưa nắng gắt.
Về lại lần này để thấy lòng ngao ngán và kinh sợ cho cuộc bể dâu.
Nào có xa xôi chi mô. Mới hai năm trước đây bến đò Sình, nơi nhìn ra Ngã Ba Sình , chỗ hợp lưu của sông Hương và sông Bồ để cùng đổ ra biển, còn là một bến đò quê điển hình: con đường đất nhỏ, cái bến cát vừa đủ rộng cho con đò xoay trở, cây đa cổ thụ soi bóng nước và là nơi che nắng che mưa cho khách chờ đò. Từ trên bến đò nhìn ra: ngã ba sông hiện lên trong cái khung vừa cổ xưa, vừa thôn dã hữu tình.
 Photobucket
Bến đò làng Sình (2008)

Ngôi quán lá bên bến đò có hai chị em tuổi chừng 13, 14 đang ngồi học bài. Cô chị đứng giảng bài cho em, còn cô em tóc cột đuôi gà ngồi lắng nghe, một chân co lên ghế. Ôi trông quê mùa và thân thương làm sao!
Photobucket
Dừng xe bên đường lặng nhìn cảnh cũ, bất giác Đính thốt lên:
-Bến xưa còn đó người xưa đâu rồi!
Tôi phì cười mà lòng thì đồng cảm:
-Đính nói nghe như thơ.
Có tiếng cười nhỏ. Bên kia đường, phía trước quán nước có cô gái đeo khẩu trang ngồi trên chiếc Honda nhìn hai đứa tôi với đôi mắt tinh nghịch. Tôi dị cho Đính quá, nói khỏa lấp:
-Người xưa không còn thì người nay đó tề. O cho tui chụp một pô lưu niệm nghe.
-Khôn, khôn được mô. Ốt dột lắm!
Cô gái nổ máy chạy mất.
Photobucket
Ờ, hai cô bé năm xưa đâu rồi không thấy… Cái quán dường như đã có chủ khác, đã được xây gạch và nới rộng ra phía con đường đi xuống bến, mà con đường thì đã được phủ lên một lớp bê tông rồi, còn đâu dấu tích xưa. Nơi cây đa rủ bóng xuống bến sông bây giờ là căn phòng mới xây có mấy bộ bàn ghế và những két bia và nước ngọt. Cây đa cũ không còn bên bến nước, bến nước trơ trụi như người mất hồn.
 Photobucket
Bến đò làng sình (2011)

Thế là một bến đò làng Sình nên thơ, một điểm văn hóa-lịch sử đã biến thành một bến nước chật hẹp và xoàng xĩnh. Tôi đưa máy ảnh chụp vài pô để ghi dấu sự đổi thay, nhưng không biết làm sao mà chụp luôn mấy pô đều không thấy ưng ý.
Dường như máy ảnh cũng chia sẻ nỗi ngậm ngùi của người cầm máy!

chuồn chuồn
12/10/2011
 Photobucket
Làng Sình (hình thang) đối diện với ngã ba Sình (chỗ có dấu+)
Photobucket
Bến nước làng Sình (2008)


Photobucket
Ngõ vắng 1
 Photobucket
Ngõ vắng 2
Photobucket"Con gái nuôi" của tui

26 thg 9, 2011

Về Huế, hè 2011 (5) - Giò lan đã nở hoa

 
Lan ý thảo đã nở hoa
Giã từ Hội An, xe lướt qua thành phố Đà Nẵng, rồi đi vào đường hầm Hải Vân. Không có gì đáng tiếc xảy ra khi qua hầm như tôi e ngại (và các bạn chờ đợi
), vì một lý do đơn giản: trong một thoáng nhìn trộm, tôi bắt gặp nàng Tây xinh đẹp của tôi đang ngắm nhìn say mê ảnh một gã đàn ông bự con mà tôi ngờ là cựu diễn viên điện ảnh Schawrzenegger, thống đốc bang California hiện nay. Nén cơn ghen vô lý, tôi hỏi, giọng chua chát : Ngài thống đốc của xứ sở mày đó hả? Nàng mỉm cười: Không, chàng đây là  thống đốc của riêng tao thôi! Nàng chìa tấm ảnh cho tôi xem. Khiếp! yêu chi cái con người to khỏe đến thế không biết! Trông ớn thật! 

 
(ảnh Net)

Từ đó trong lòng tôi chỉ còn vang lên hai tiếng :Về nhà!
Xe ra khỏi đường hầm sâu hun hút. Mười phút trong ánh điện vàng đục với nỗi lo sự cố đường hầm đã qua, hành khách thở phào nhẹ nhõm. Trước mắt tôi là biển đẹp Lăng Cô nổi tiếng thế giới, trông như cảnh mộng hải giác thiên nhai ; 
 Photobucket

Cửa vào đường hầm Hải Vân   Vịnh Lăng Cô (ảnh Net)

rồi những miền đất với những cái tên thân thương như tiếng reo nao nức lòng tôi lần lượt hiện ra : Nước Ngọt, Cầu Hai, Đá Bạc, Truồi, Nong, Phú Bài, Hương Thủy, Quẹo Giàng Xay…
  Đến Huế rồi. Lòng xôn xao mừng. Câu thơ Bùi Giáng rộn lên trong lòng:
  Dạ thưa phố Huế bây chừ
  Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
  Vừa đi vào cổng nhà, em, cháu đã chạy ra xách giùm túi xách nặng. Mạ từ trong quán chậm chậm đi ra, đôi mắt không còn tinh anh như trước, nhưng ôi, tôi nhìn thấy chất chứa bao nhiêu yêu thương. Đi xa lâu ngày mới về lại nhà, mừng mừng tủi tủi, các thứ…Rồi đi ngủ sớm trong tâm-yên-bình trọn vẹn. Về nhà rồi, như về với thế giới của một TÔI XƯA trong vòng tay mạ, mọi chuyện đa đoan ngoài đời như đã ở một thế giới khác.
*
Sáng dậy sớm, thơ thẩn đi ra sân. Hè năm nay không thấy đào rụng đầy sân như năm trước tuy lá vẫn mướt xanh. Chú Mừng đang tưới mấy chậu cây cảnh, dừng tay chỉ vào thân cây đào:
- Anh coi, có chi trên cây tề!
Tui nhìn theo ngón tay chỉ của chú Mừng, lòng như muốn reo lên. Giò lan ý thảo tui ghép vào thân cây đào hai năm trước, chờ mãi không ra hoa , định gỡ bỏ đi thì năm nay về bất ngờ thấy nó nở nụ cười chào. Hai chuỗi ngọc trắng muốt, giữa lòng hoa phớt vàng buông dài từ trên cao xuống. Màu hoa tươi trong, cánh hoa như có phủ một lớp lông mỏng mịn.
Thật không bõ công mấy buổi cùng Đính la cà lề đường phố Trần Hưng Đạo tìm mua phong lan, và chăm bẳm nó trong suốt hai kỳ nghỉ hè.
Cách đây hai năm, bởi mê giàn lan của Đính, tôi cũng hứng chí tạo một giàn lan cho mình. Tìm lan rừng thật dễ. Không như ngày xưa nhà văn Nhất Linh thời ở ẩn bên giòng suối Đa Mê phải băng rừng lội suối đi tìm, bây giờ người miền núi đem lan về phố bán, ta chỉ việc đến chọn. Chỉ cần 50.000 đồng là có vài ba giò lan rồi. Mua lan về tôi bó gốc lan vào miếng vỏ cây rồi gắn vào thân cây đào. Mỗi sáng mỗi chiều tôi đều tưới đẫm cho lan.
Cách chơi lan như rứa không chuyên nghiệp chút nào, vì rứa, sau mấy mùa hỏi thăm biết không có kết quả gì tôi hầu như đã quên nó đi.
Khi “tưởng rằng đã quên”(*) thì những nhánh lan chung tình của tôi bất ngờ nhìn tôi nhoẻn nụ cười yêu kiều, tươi tắn. Cây đào mộc mạc năm trước bây giờ trông duyên dáng hẳn lên bởi có nàng lan rừng tô điểm.

Photobucket
Rin - cộng tác viên đắc lực của tui và lan ý thảo
Tôi đi quanh gốc đào như chào thăm người bạn cũ, người bạn cùng vui buồn với tôi từ thưở thiếu thời đến giờ. Đây là cây đào  đã cùng ngôi nhà rường của gia đình tôi trải qua bao nhiêu bể dâu của hai thế kỷ. Trên thân đào vẫn còn vết đạn pháo những năm binh lửa. Vào năm 1985, một cơn bão lớn càn qua thành Huế, cùng chung số phận của nhiều thân cây cổ thụ khác, cây đào nhà tôi bị xô ngã. Nhưng kỳ lạ thay, khi được dựng lên nó vẫn sống, vẫn sống mạnh mẽ cho đến hôm nay, và hằng năm đến mùa, trái chín lại rụng đầy sân, làm khổ o Hiệp sáng nào cũng phải dậy sớm xúc hốt đổ đầy thùng rác.
Mấy năm trước còn khỏe chân khỏe tay, mạ tiếc “của trời”, bảo chú Mừng trèo lên cây hái, còn mạ thì lượm những trái rụng còn lành lặn. Tất cả cho vào một mủng, mạ mang xuống chợ Cầu Kho bán kiếm thêm tiền chợ. Sáng nào chú Mừng cũng hái, vậy mà vẫn còn dư cho bọn trẻ con trong xóm hái trộm hoặc lượm trái rơi để thêm vị ngọt cho kỷ niệm tuổi thơ của chúng. Mỗi năm đến mùa trái, quanh cây đào lại rộn vang tiếng cười đùa của trẻ.
Nhưng năm nay dậy sớm ra sân đi dạo tôi bổng cảm thấy thiếu vắng cái gì. À, phải rồi, tôi không còn nghe tiếng lộp bộp quen thân của trái đào rơi nữa. Cây đào đứng lặng yên dưới trời sương. O Hiệp không phải dậy sớm lui cui hốt trái đào rụng nữa rồi.Chú Mừng bảo năm nay thời tiết thất thường nên nhiều giống cây không ra hoa, đậu quả, có lẽ cây đào nhà mình cũng rứa. Nhìn lá đào xanh mướt tôi nghĩ thầm, mong thầm: Chỉ một năm nay tiết trời thay đổi, đào thưa trái thế thôi, sang năm đào lại sây, nó còn khỏe lắm mà!
Tôi cứ đi tới đi lui quanh sân, nhìn cây đào thân thiết, lòng  ngậm ngùi , thương lo.
Không còn nghe tiếng đào rơi mỗi sáng ra sân, nhưng bạn ơi, tôi lại nhìn thấy giò lan “tưởng rằng đã quên” trên thân xù xì của nó nở hoa, dăm sáu chuỗi ngọc trắng tinh, phớt vàng đong đưa đón nắng mai.
Bỗng thấm thía câu thơ của thiền sư Mãn Giác:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
 Photobucket
Sao tôi lại cứ mãi băn khoăn nhớ tiếng đào rơi năm cũ mà không để lòng vui trước nụ cười duyên của nhánh lan rừng mới nở sáng nay nhỉ?

chuồn chuồn
23/9/2011
--------------------------------------------------
(*) Một ca khúc của Trịnh Công sơn

4 thg 9, 2011

Về Huế, hè 2011 (4) Bâng Khuâng Hoài Phố*


Nhờ câu chuyện của H mà chuyến đi xe giường nằm từ Nha Trang ra Hội An của tôi, mặc dù nằm bên cạnh tôi cũng có nàng tiên tóc vàng diễm lệ, diễn ra tương đối êm ả. Suốt đêm, tôi chỉ để đôi mắt phiêu lưu vài lần, nhưng cảm thấy …sao sao ấy là vội vàng rút lui trước khi bị cám dỗ. "Ớn" thật! H nói không sai chút nào. Tôi quay về với thế giới của riêng mình, thỉnh thoảng trả lời tin nhắn hỏi thăm của bà xã, nói chuyện vài câu với cô con gái rượu qua điện thoại, và nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ. Có thể nói, chuyến đi hoàn toàn tốt đẹp, nếu không có chuyện lôi thôi nho nhỏ vào buổi sáng hôm sau, khi “tình trạng tự giới nghiêm” đã được dỡ bỏ.

 Photobucket
Đến phố Hội thì đã 7 giờ sáng.
Hành khách có 45 phút sống với phố cổ. Tuy nhiên, thời gian đó không phải dành cho việc tham quan phố Hội, bởi vì sau một đêm dài rong ruổi dặm trường, ai cũng cần phải dành thời gian cho việc khác cần thiết hơn: làm mới bản thân để đón chào ngày mới. Nhưng văn phòng giao dịch của TheSinh Tourist Hội An không thân thiện cho lắm vì chỉ có 2 toilet, một ở tầng trệt và một ở tầng 2 mà khách thì có hơn 40 vị với những việc cần làm ngay. Thế nên mới diễn ra một cảnh bi hài. Một cuộc xếp hàng trước cả hai toilet; có vài vị chạy lên cầu thang hai tầng lầu rồi tiu nghỉu chạy xuống, bộ mặt trông thật khó coi. Thật khác với vẻ mặt hiên ngang đường bệ của họ khi bước lên xe giường nằm cao cấp chiều qua.
  Tôi chẳng khá gì hơn, cũng nôn nóng chạy lên lầu, xuống lầu. Tuy vậy cũng đành chịu thua những bộ mặt khẩn trương của những vị khách nhanh chân xếp hàng trước, bèn rời văn phòng giao dịch đi tìm một quán cao lầu - đặc sản của phố Hội để ăn sáng.   
  Bỏ con đường Hai Bà Trưng vùng ngoại ô, nơi xe dừng, tôi vội vàng đi vào trong phố bởi nghĩ rằng ở đó vị phố cổ đậm đà hơn. Đi qua hai ba con đường vẫn chưa tìm thấy quán cao lầu nào mà thời gian thì đang hẹp lại. Từ các gánh hàng ăn vệ đường đến các quán ăn khác chỉ thấy phục vụ các món ăn miền nào cũng có: Bún bò Huế, mì Quảng, bún rêu, phở…
  Khi đồng hồ chỉ 7g10 tôi mới tìm thấy một quán ăn đúng là cổ (cũng có nghĩa là rất cũ kỹ) có ghi rõ hai chữ CAO LẦU trên bảng hiệu, bên cạnh có hàng chữ nhỏ: Frest beer.   Quán ăn là một căn phòng trong ngôi nhà cổ, tường nhà rêu phong và mái ngói cũ nát. Nhưng hiên nhà có treo hai cái đèn lồng đỏ, như đôi môi son trên khuôn mặt nhăn nheo, thay cho lời chào khách. Quán chưa có khách, nhưng hề gì, tôi khấp khởi đi vào.
- Cho một tô cao lầu!
Ông chủ quán đang lúi húi sau quầy, sắp đặt lại ly tách các thứ, tiếng va chạm của thủy tinh lanh canh nho nhỏ trong buổi sáng yên tĩnh trong ngôi nhà cổ nghe thật bình an. Nơi này thời gian trôi thật chậm. Chừng như là gần một phút sau, từ trong chỗ tối của gian nhà, giọng ông chủ khàn khàn vọng ra:
- Bả đang đi chợ, 8 giờ mới có cao lầu anh ạ. Anh dùng cà phê nhé.
Ui trừi! 7g25! Chỉ còn 20 phút nữa xe khởi hành mà cái bụng thì đang bị bọn kiến biểu tình!
Tôi hỏi chủ quán nơi bán cao lầu gần nhất, ổng chỉ tay về con đường tôi vừa đi qua. Có lẽ tôi đọc các bảng hiệu chưa kỹ. Tôi đi về theo đường cũ vì không còn thời gian. Đến một ngả rẽ, quả thật, tôi tìm thấy hai chữ c o lau nằm khiêm tốn bên cạnh các món ăn sáng khác, màu chữ cũng đã phai và mất đi mấy nét. Tôi đi vào, kéo ghế ngồi. Mùi nước dùng bốc lên ngào ngạt. Tôi gọi một cách tự tin.
-Chị cho một tô cao lầu nhé!
Bà chủ quán đang luôn tay múc dọn hàng ăn, không nhìn khách, đáp ngay:
-Có ngay!
Lát sau, bà chủ quán, với giọng Quảng Nam đặc sệt:
-Mời eng dùng cho nóng!
Photobucket
Nhìn vào tô,…ủa?... nhìn kỹ,… thấy món ăn quen thuộc quá. Chưa ăn cao lầu bao giờ, nhưng bởi có lên mạng đọc báo nên về lý thuyết cũng biết sơ sơ. Đại khái như ri nì:
Sợi cao lầu có độ dai, chắc, màu hồng đào như trái bòn bon ( Nam trân, ngày xưa dùng để dâng vua). Xắt sợi cao lầu thành từng đoạn nhỏ, phơi khô, sau đó chiên phồng.
Thịt heo nạc ướp xì dầu, nước mắm Nam Ô, ngũ vị hương, gia vị, đậu phụng (lạc) rang giã vụn, xào chín để làm nhân. Cho rau sống, cao lầu vào tô, đặt loại nhân tổng hợp lên trên, rưới nước sốt thịt vòng quanh. Chiếc bánh tráng (bánh đa) vàng hươm với nhiều mè trắng, mè đen, được dọn kèm.
Rau sống được trồng tại làng Trà Quế, ngon nổi tiếng khắp miền Trung, rau sống gồm rau thơm, rau quế, rau răm, rau đắng, ngò, giá, xà lách, diếp cá, cải con, bắp chuối, dưa leo, khế chua. Mười hai thứ rau tượng trưng cho 12 con giáp của con người.
Chao ôi, khi thực khách bưng bát cao lầu thơm ngon lên để thưởng thức, lòng thầm nghĩ rằng "mình vừa thành một Quân vương đang "ngự thiện", mà không phải "thần dân" nào cũng được diễm phúc tuyệt vời ấy.(Theo: 24h)

(Mời bạn xem thêm lời còm của Bâng Khuâng ở phần Bình Luận).
 Photobucket

Tô Cao lầu (h1) . ảnh Net
 Photobucket
Tô Cao lầu (h2).ảnh Net

Tôi nói, không mấy tự tin:
-Cao lầu là đây à? Sao trông như là phở!
Bà chủ cười hiền hậu:
-Ùa, cao lầu ế quá, nghỉ bán lâu rồi eng à. Thôi ăn chi cũng rứa mà, ăn đại đi eng.
Tôi cũng "ùa" theo, cay đắng nghĩ : mình mãi mãi chỉ là "thần dân". Giấc mộng "quân vương" vài phút ăn sáng thôi cũng tan rồi! Chỉ còn 15 phút, còn kén cá chọn canh chi nữa! Tôi ăn vội vàng cho xong chứ không biết thế nào là ngon dở gì nữa. Cái tâm hồn ăn uống nồng nhiệt của tôi bị tổn thương ghê quá.
Khi trở lại đường Hai Bà Trưng bất ngờ nhìn thấy có vài quán ăn có cao lầu. Mới hay mình đã bị trừng phạt vì kén cá chọn canh, ham chất phố cổ đậm đà mà chê ngoại ô dân dã.
Đến văn phòng TheSinh Tourist thì đồng hồ chỉ 7 giờ 35. Còn 10 phút. Tôi yên tâm ngắm phố, chụp mấy pô ảnh.
 Photobucket
Một bảng hiệu ở Phố cổ (1)
Photobucket
 
Một bảng hiệu ở phố cổ (2)


 Lúc này tôi mới nhận ra: trên các bảng giới thiệu món ăn, bên cạnh tên món ăn bằng tiếng Việt có tên món ăn bằng tiếng nước ngoài, những ngôi nhà cổ thì tàn tạ, chìm khuất dưới bóng những căn lầu khang trang, đẹp đẽ và oai phong với kiến trúc Âu Mỹ hiện đại pha chút duyên của kiến trúc Á Đông xưa.
 Photobucket

Bài ca kiến trúc “Tân cổ giao duyên”, “Đông -Tây hòa điệu” tuy cũng hài hòa, thẩm mỹ nhưng đó không phải là phố cổ mà khách bốn phương hoài vọng nữa.
Cảm thấy như phố cổ đang từng bước đi lùi dần về dĩ vãng!
 Photobucket
(net)
Lòng buồn buồn nghĩ tới câu thơ cổ: Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Tôi đưa máy ảnh lên, ghi lại vài bức ảnh các ngôi nhà, các bảng hiệu “Tân cổ giao duyên” và  “Đông-Tây hòa điệu”. Bỗng nàng tiên tóc vàng suốt đêm qua ngủ cạnh tôi đi qua, lọt vào ống ngắm, che mất một hình ảnh đặc trưng của phố cổ: một bà già còng lưng với gánh cao lầu đi qua một ngôi nhà cổ tàn tạ, rêu phong. Cô nàng xinh đẹp và rực rỡ quá. Nhưng, điều tôi tìm kiếm lúc này là cái hồn phố cổ kia!
Sau này, thỉnh thoảng nhìn lại bức hình nàng Tây kiều diễm-từng một đêm ngủ bên tôi-che khuất bà già còng lưng gánh hồn phố cổ lòng tôi cứ mãi bâng khuâng…

chuồn chuồn
12/9/2011
----------------------------------
*Hoài Phố : Một giả thuyết phổ biến cho rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc tới. Theo một thuyết khác, sông Thu Bồn trước kia có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất hiện cái tên Faifo (trích:Wikipedia)