17 thg 10, 2011

Về Huế, hè 2011(6)Thăm lại bến đò xưa

Photobucket
Vừa học bài vừa coi quán

Đò từ Đông Ba
Đò qua Đập Đá,
Đò về Vĩ Giạ
Thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh
Tiếng hò xa vọng
Nhắn  tình nước non…
Mấy câu hò của chí sĩ Phan Bội Châu đã giục tôi về miền quê thăm bến đò làng Sình cách đây hai năm và bây giờ một lần nữa, vào một trưa nắng gắt.
Về lại lần này để thấy lòng ngao ngán và kinh sợ cho cuộc bể dâu.
Nào có xa xôi chi mô. Mới hai năm trước đây bến đò Sình, nơi nhìn ra Ngã Ba Sình , chỗ hợp lưu của sông Hương và sông Bồ để cùng đổ ra biển, còn là một bến đò quê điển hình: con đường đất nhỏ, cái bến cát vừa đủ rộng cho con đò xoay trở, cây đa cổ thụ soi bóng nước và là nơi che nắng che mưa cho khách chờ đò. Từ trên bến đò nhìn ra: ngã ba sông hiện lên trong cái khung vừa cổ xưa, vừa thôn dã hữu tình.
 Photobucket
Bến đò làng Sình (2008)

Ngôi quán lá bên bến đò có hai chị em tuổi chừng 13, 14 đang ngồi học bài. Cô chị đứng giảng bài cho em, còn cô em tóc cột đuôi gà ngồi lắng nghe, một chân co lên ghế. Ôi trông quê mùa và thân thương làm sao!
Photobucket
Dừng xe bên đường lặng nhìn cảnh cũ, bất giác Đính thốt lên:
-Bến xưa còn đó người xưa đâu rồi!
Tôi phì cười mà lòng thì đồng cảm:
-Đính nói nghe như thơ.
Có tiếng cười nhỏ. Bên kia đường, phía trước quán nước có cô gái đeo khẩu trang ngồi trên chiếc Honda nhìn hai đứa tôi với đôi mắt tinh nghịch. Tôi dị cho Đính quá, nói khỏa lấp:
-Người xưa không còn thì người nay đó tề. O cho tui chụp một pô lưu niệm nghe.
-Khôn, khôn được mô. Ốt dột lắm!
Cô gái nổ máy chạy mất.
Photobucket
Ờ, hai cô bé năm xưa đâu rồi không thấy… Cái quán dường như đã có chủ khác, đã được xây gạch và nới rộng ra phía con đường đi xuống bến, mà con đường thì đã được phủ lên một lớp bê tông rồi, còn đâu dấu tích xưa. Nơi cây đa rủ bóng xuống bến sông bây giờ là căn phòng mới xây có mấy bộ bàn ghế và những két bia và nước ngọt. Cây đa cũ không còn bên bến nước, bến nước trơ trụi như người mất hồn.
 Photobucket
Bến đò làng sình (2011)

Thế là một bến đò làng Sình nên thơ, một điểm văn hóa-lịch sử đã biến thành một bến nước chật hẹp và xoàng xĩnh. Tôi đưa máy ảnh chụp vài pô để ghi dấu sự đổi thay, nhưng không biết làm sao mà chụp luôn mấy pô đều không thấy ưng ý.
Dường như máy ảnh cũng chia sẻ nỗi ngậm ngùi của người cầm máy!

chuồn chuồn
12/10/2011
 Photobucket
Làng Sình (hình thang) đối diện với ngã ba Sình (chỗ có dấu+)
Photobucket
Bến nước làng Sình (2008)


Photobucket
Ngõ vắng 1
 Photobucket
Ngõ vắng 2
Photobucket"Con gái nuôi" của tui

26 thg 9, 2011

Về Huế, hè 2011 (5) - Giò lan đã nở hoa

 
Lan ý thảo đã nở hoa
Giã từ Hội An, xe lướt qua thành phố Đà Nẵng, rồi đi vào đường hầm Hải Vân. Không có gì đáng tiếc xảy ra khi qua hầm như tôi e ngại (và các bạn chờ đợi
), vì một lý do đơn giản: trong một thoáng nhìn trộm, tôi bắt gặp nàng Tây xinh đẹp của tôi đang ngắm nhìn say mê ảnh một gã đàn ông bự con mà tôi ngờ là cựu diễn viên điện ảnh Schawrzenegger, thống đốc bang California hiện nay. Nén cơn ghen vô lý, tôi hỏi, giọng chua chát : Ngài thống đốc của xứ sở mày đó hả? Nàng mỉm cười: Không, chàng đây là  thống đốc của riêng tao thôi! Nàng chìa tấm ảnh cho tôi xem. Khiếp! yêu chi cái con người to khỏe đến thế không biết! Trông ớn thật! 

 
(ảnh Net)

Từ đó trong lòng tôi chỉ còn vang lên hai tiếng :Về nhà!
Xe ra khỏi đường hầm sâu hun hút. Mười phút trong ánh điện vàng đục với nỗi lo sự cố đường hầm đã qua, hành khách thở phào nhẹ nhõm. Trước mắt tôi là biển đẹp Lăng Cô nổi tiếng thế giới, trông như cảnh mộng hải giác thiên nhai ; 
 Photobucket

Cửa vào đường hầm Hải Vân   Vịnh Lăng Cô (ảnh Net)

rồi những miền đất với những cái tên thân thương như tiếng reo nao nức lòng tôi lần lượt hiện ra : Nước Ngọt, Cầu Hai, Đá Bạc, Truồi, Nong, Phú Bài, Hương Thủy, Quẹo Giàng Xay…
  Đến Huế rồi. Lòng xôn xao mừng. Câu thơ Bùi Giáng rộn lên trong lòng:
  Dạ thưa phố Huế bây chừ
  Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
  Vừa đi vào cổng nhà, em, cháu đã chạy ra xách giùm túi xách nặng. Mạ từ trong quán chậm chậm đi ra, đôi mắt không còn tinh anh như trước, nhưng ôi, tôi nhìn thấy chất chứa bao nhiêu yêu thương. Đi xa lâu ngày mới về lại nhà, mừng mừng tủi tủi, các thứ…Rồi đi ngủ sớm trong tâm-yên-bình trọn vẹn. Về nhà rồi, như về với thế giới của một TÔI XƯA trong vòng tay mạ, mọi chuyện đa đoan ngoài đời như đã ở một thế giới khác.
*
Sáng dậy sớm, thơ thẩn đi ra sân. Hè năm nay không thấy đào rụng đầy sân như năm trước tuy lá vẫn mướt xanh. Chú Mừng đang tưới mấy chậu cây cảnh, dừng tay chỉ vào thân cây đào:
- Anh coi, có chi trên cây tề!
Tui nhìn theo ngón tay chỉ của chú Mừng, lòng như muốn reo lên. Giò lan ý thảo tui ghép vào thân cây đào hai năm trước, chờ mãi không ra hoa , định gỡ bỏ đi thì năm nay về bất ngờ thấy nó nở nụ cười chào. Hai chuỗi ngọc trắng muốt, giữa lòng hoa phớt vàng buông dài từ trên cao xuống. Màu hoa tươi trong, cánh hoa như có phủ một lớp lông mỏng mịn.
Thật không bõ công mấy buổi cùng Đính la cà lề đường phố Trần Hưng Đạo tìm mua phong lan, và chăm bẳm nó trong suốt hai kỳ nghỉ hè.
Cách đây hai năm, bởi mê giàn lan của Đính, tôi cũng hứng chí tạo một giàn lan cho mình. Tìm lan rừng thật dễ. Không như ngày xưa nhà văn Nhất Linh thời ở ẩn bên giòng suối Đa Mê phải băng rừng lội suối đi tìm, bây giờ người miền núi đem lan về phố bán, ta chỉ việc đến chọn. Chỉ cần 50.000 đồng là có vài ba giò lan rồi. Mua lan về tôi bó gốc lan vào miếng vỏ cây rồi gắn vào thân cây đào. Mỗi sáng mỗi chiều tôi đều tưới đẫm cho lan.
Cách chơi lan như rứa không chuyên nghiệp chút nào, vì rứa, sau mấy mùa hỏi thăm biết không có kết quả gì tôi hầu như đã quên nó đi.
Khi “tưởng rằng đã quên”(*) thì những nhánh lan chung tình của tôi bất ngờ nhìn tôi nhoẻn nụ cười yêu kiều, tươi tắn. Cây đào mộc mạc năm trước bây giờ trông duyên dáng hẳn lên bởi có nàng lan rừng tô điểm.

Photobucket
Rin - cộng tác viên đắc lực của tui và lan ý thảo
Tôi đi quanh gốc đào như chào thăm người bạn cũ, người bạn cùng vui buồn với tôi từ thưở thiếu thời đến giờ. Đây là cây đào  đã cùng ngôi nhà rường của gia đình tôi trải qua bao nhiêu bể dâu của hai thế kỷ. Trên thân đào vẫn còn vết đạn pháo những năm binh lửa. Vào năm 1985, một cơn bão lớn càn qua thành Huế, cùng chung số phận của nhiều thân cây cổ thụ khác, cây đào nhà tôi bị xô ngã. Nhưng kỳ lạ thay, khi được dựng lên nó vẫn sống, vẫn sống mạnh mẽ cho đến hôm nay, và hằng năm đến mùa, trái chín lại rụng đầy sân, làm khổ o Hiệp sáng nào cũng phải dậy sớm xúc hốt đổ đầy thùng rác.
Mấy năm trước còn khỏe chân khỏe tay, mạ tiếc “của trời”, bảo chú Mừng trèo lên cây hái, còn mạ thì lượm những trái rụng còn lành lặn. Tất cả cho vào một mủng, mạ mang xuống chợ Cầu Kho bán kiếm thêm tiền chợ. Sáng nào chú Mừng cũng hái, vậy mà vẫn còn dư cho bọn trẻ con trong xóm hái trộm hoặc lượm trái rơi để thêm vị ngọt cho kỷ niệm tuổi thơ của chúng. Mỗi năm đến mùa trái, quanh cây đào lại rộn vang tiếng cười đùa của trẻ.
Nhưng năm nay dậy sớm ra sân đi dạo tôi bổng cảm thấy thiếu vắng cái gì. À, phải rồi, tôi không còn nghe tiếng lộp bộp quen thân của trái đào rơi nữa. Cây đào đứng lặng yên dưới trời sương. O Hiệp không phải dậy sớm lui cui hốt trái đào rụng nữa rồi.Chú Mừng bảo năm nay thời tiết thất thường nên nhiều giống cây không ra hoa, đậu quả, có lẽ cây đào nhà mình cũng rứa. Nhìn lá đào xanh mướt tôi nghĩ thầm, mong thầm: Chỉ một năm nay tiết trời thay đổi, đào thưa trái thế thôi, sang năm đào lại sây, nó còn khỏe lắm mà!
Tôi cứ đi tới đi lui quanh sân, nhìn cây đào thân thiết, lòng  ngậm ngùi , thương lo.
Không còn nghe tiếng đào rơi mỗi sáng ra sân, nhưng bạn ơi, tôi lại nhìn thấy giò lan “tưởng rằng đã quên” trên thân xù xì của nó nở hoa, dăm sáu chuỗi ngọc trắng tinh, phớt vàng đong đưa đón nắng mai.
Bỗng thấm thía câu thơ của thiền sư Mãn Giác:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
 Photobucket
Sao tôi lại cứ mãi băn khoăn nhớ tiếng đào rơi năm cũ mà không để lòng vui trước nụ cười duyên của nhánh lan rừng mới nở sáng nay nhỉ?

chuồn chuồn
23/9/2011
--------------------------------------------------
(*) Một ca khúc của Trịnh Công sơn

4 thg 9, 2011

Về Huế, hè 2011 (4) Bâng Khuâng Hoài Phố*


Nhờ câu chuyện của H mà chuyến đi xe giường nằm từ Nha Trang ra Hội An của tôi, mặc dù nằm bên cạnh tôi cũng có nàng tiên tóc vàng diễm lệ, diễn ra tương đối êm ả. Suốt đêm, tôi chỉ để đôi mắt phiêu lưu vài lần, nhưng cảm thấy …sao sao ấy là vội vàng rút lui trước khi bị cám dỗ. "Ớn" thật! H nói không sai chút nào. Tôi quay về với thế giới của riêng mình, thỉnh thoảng trả lời tin nhắn hỏi thăm của bà xã, nói chuyện vài câu với cô con gái rượu qua điện thoại, và nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ. Có thể nói, chuyến đi hoàn toàn tốt đẹp, nếu không có chuyện lôi thôi nho nhỏ vào buổi sáng hôm sau, khi “tình trạng tự giới nghiêm” đã được dỡ bỏ.

 Photobucket
Đến phố Hội thì đã 7 giờ sáng.
Hành khách có 45 phút sống với phố cổ. Tuy nhiên, thời gian đó không phải dành cho việc tham quan phố Hội, bởi vì sau một đêm dài rong ruổi dặm trường, ai cũng cần phải dành thời gian cho việc khác cần thiết hơn: làm mới bản thân để đón chào ngày mới. Nhưng văn phòng giao dịch của TheSinh Tourist Hội An không thân thiện cho lắm vì chỉ có 2 toilet, một ở tầng trệt và một ở tầng 2 mà khách thì có hơn 40 vị với những việc cần làm ngay. Thế nên mới diễn ra một cảnh bi hài. Một cuộc xếp hàng trước cả hai toilet; có vài vị chạy lên cầu thang hai tầng lầu rồi tiu nghỉu chạy xuống, bộ mặt trông thật khó coi. Thật khác với vẻ mặt hiên ngang đường bệ của họ khi bước lên xe giường nằm cao cấp chiều qua.
  Tôi chẳng khá gì hơn, cũng nôn nóng chạy lên lầu, xuống lầu. Tuy vậy cũng đành chịu thua những bộ mặt khẩn trương của những vị khách nhanh chân xếp hàng trước, bèn rời văn phòng giao dịch đi tìm một quán cao lầu - đặc sản của phố Hội để ăn sáng.   
  Bỏ con đường Hai Bà Trưng vùng ngoại ô, nơi xe dừng, tôi vội vàng đi vào trong phố bởi nghĩ rằng ở đó vị phố cổ đậm đà hơn. Đi qua hai ba con đường vẫn chưa tìm thấy quán cao lầu nào mà thời gian thì đang hẹp lại. Từ các gánh hàng ăn vệ đường đến các quán ăn khác chỉ thấy phục vụ các món ăn miền nào cũng có: Bún bò Huế, mì Quảng, bún rêu, phở…
  Khi đồng hồ chỉ 7g10 tôi mới tìm thấy một quán ăn đúng là cổ (cũng có nghĩa là rất cũ kỹ) có ghi rõ hai chữ CAO LẦU trên bảng hiệu, bên cạnh có hàng chữ nhỏ: Frest beer.   Quán ăn là một căn phòng trong ngôi nhà cổ, tường nhà rêu phong và mái ngói cũ nát. Nhưng hiên nhà có treo hai cái đèn lồng đỏ, như đôi môi son trên khuôn mặt nhăn nheo, thay cho lời chào khách. Quán chưa có khách, nhưng hề gì, tôi khấp khởi đi vào.
- Cho một tô cao lầu!
Ông chủ quán đang lúi húi sau quầy, sắp đặt lại ly tách các thứ, tiếng va chạm của thủy tinh lanh canh nho nhỏ trong buổi sáng yên tĩnh trong ngôi nhà cổ nghe thật bình an. Nơi này thời gian trôi thật chậm. Chừng như là gần một phút sau, từ trong chỗ tối của gian nhà, giọng ông chủ khàn khàn vọng ra:
- Bả đang đi chợ, 8 giờ mới có cao lầu anh ạ. Anh dùng cà phê nhé.
Ui trừi! 7g25! Chỉ còn 20 phút nữa xe khởi hành mà cái bụng thì đang bị bọn kiến biểu tình!
Tôi hỏi chủ quán nơi bán cao lầu gần nhất, ổng chỉ tay về con đường tôi vừa đi qua. Có lẽ tôi đọc các bảng hiệu chưa kỹ. Tôi đi về theo đường cũ vì không còn thời gian. Đến một ngả rẽ, quả thật, tôi tìm thấy hai chữ c o lau nằm khiêm tốn bên cạnh các món ăn sáng khác, màu chữ cũng đã phai và mất đi mấy nét. Tôi đi vào, kéo ghế ngồi. Mùi nước dùng bốc lên ngào ngạt. Tôi gọi một cách tự tin.
-Chị cho một tô cao lầu nhé!
Bà chủ quán đang luôn tay múc dọn hàng ăn, không nhìn khách, đáp ngay:
-Có ngay!
Lát sau, bà chủ quán, với giọng Quảng Nam đặc sệt:
-Mời eng dùng cho nóng!
Photobucket
Nhìn vào tô,…ủa?... nhìn kỹ,… thấy món ăn quen thuộc quá. Chưa ăn cao lầu bao giờ, nhưng bởi có lên mạng đọc báo nên về lý thuyết cũng biết sơ sơ. Đại khái như ri nì:
Sợi cao lầu có độ dai, chắc, màu hồng đào như trái bòn bon ( Nam trân, ngày xưa dùng để dâng vua). Xắt sợi cao lầu thành từng đoạn nhỏ, phơi khô, sau đó chiên phồng.
Thịt heo nạc ướp xì dầu, nước mắm Nam Ô, ngũ vị hương, gia vị, đậu phụng (lạc) rang giã vụn, xào chín để làm nhân. Cho rau sống, cao lầu vào tô, đặt loại nhân tổng hợp lên trên, rưới nước sốt thịt vòng quanh. Chiếc bánh tráng (bánh đa) vàng hươm với nhiều mè trắng, mè đen, được dọn kèm.
Rau sống được trồng tại làng Trà Quế, ngon nổi tiếng khắp miền Trung, rau sống gồm rau thơm, rau quế, rau răm, rau đắng, ngò, giá, xà lách, diếp cá, cải con, bắp chuối, dưa leo, khế chua. Mười hai thứ rau tượng trưng cho 12 con giáp của con người.
Chao ôi, khi thực khách bưng bát cao lầu thơm ngon lên để thưởng thức, lòng thầm nghĩ rằng "mình vừa thành một Quân vương đang "ngự thiện", mà không phải "thần dân" nào cũng được diễm phúc tuyệt vời ấy.(Theo: 24h)

(Mời bạn xem thêm lời còm của Bâng Khuâng ở phần Bình Luận).
 Photobucket

Tô Cao lầu (h1) . ảnh Net
 Photobucket
Tô Cao lầu (h2).ảnh Net

Tôi nói, không mấy tự tin:
-Cao lầu là đây à? Sao trông như là phở!
Bà chủ cười hiền hậu:
-Ùa, cao lầu ế quá, nghỉ bán lâu rồi eng à. Thôi ăn chi cũng rứa mà, ăn đại đi eng.
Tôi cũng "ùa" theo, cay đắng nghĩ : mình mãi mãi chỉ là "thần dân". Giấc mộng "quân vương" vài phút ăn sáng thôi cũng tan rồi! Chỉ còn 15 phút, còn kén cá chọn canh chi nữa! Tôi ăn vội vàng cho xong chứ không biết thế nào là ngon dở gì nữa. Cái tâm hồn ăn uống nồng nhiệt của tôi bị tổn thương ghê quá.
Khi trở lại đường Hai Bà Trưng bất ngờ nhìn thấy có vài quán ăn có cao lầu. Mới hay mình đã bị trừng phạt vì kén cá chọn canh, ham chất phố cổ đậm đà mà chê ngoại ô dân dã.
Đến văn phòng TheSinh Tourist thì đồng hồ chỉ 7 giờ 35. Còn 10 phút. Tôi yên tâm ngắm phố, chụp mấy pô ảnh.
 Photobucket
Một bảng hiệu ở Phố cổ (1)
Photobucket
 
Một bảng hiệu ở phố cổ (2)


 Lúc này tôi mới nhận ra: trên các bảng giới thiệu món ăn, bên cạnh tên món ăn bằng tiếng Việt có tên món ăn bằng tiếng nước ngoài, những ngôi nhà cổ thì tàn tạ, chìm khuất dưới bóng những căn lầu khang trang, đẹp đẽ và oai phong với kiến trúc Âu Mỹ hiện đại pha chút duyên của kiến trúc Á Đông xưa.
 Photobucket

Bài ca kiến trúc “Tân cổ giao duyên”, “Đông -Tây hòa điệu” tuy cũng hài hòa, thẩm mỹ nhưng đó không phải là phố cổ mà khách bốn phương hoài vọng nữa.
Cảm thấy như phố cổ đang từng bước đi lùi dần về dĩ vãng!
 Photobucket
(net)
Lòng buồn buồn nghĩ tới câu thơ cổ: Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Tôi đưa máy ảnh lên, ghi lại vài bức ảnh các ngôi nhà, các bảng hiệu “Tân cổ giao duyên” và  “Đông-Tây hòa điệu”. Bỗng nàng tiên tóc vàng suốt đêm qua ngủ cạnh tôi đi qua, lọt vào ống ngắm, che mất một hình ảnh đặc trưng của phố cổ: một bà già còng lưng với gánh cao lầu đi qua một ngôi nhà cổ tàn tạ, rêu phong. Cô nàng xinh đẹp và rực rỡ quá. Nhưng, điều tôi tìm kiếm lúc này là cái hồn phố cổ kia!
Sau này, thỉnh thoảng nhìn lại bức hình nàng Tây kiều diễm-từng một đêm ngủ bên tôi-che khuất bà già còng lưng gánh hồn phố cổ lòng tôi cứ mãi bâng khuâng…

chuồn chuồn
12/9/2011
----------------------------------
*Hoài Phố : Một giả thuyết phổ biến cho rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc tới. Theo một thuyết khác, sông Thu Bồn trước kia có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất hiện cái tên Faifo (trích:Wikipedia)


22 thg 8, 2011

Về Huế, hè 2011 (3) - Về tắm ao ta...

(Hài hước du ký)
Thật ra, trong lúc chờ xe tôi vẫn trông tin H. H, bạn học cùng trường trung học hồi trước, sau tôi hai lớp, hiện đang làm nghề thu mua hải sản ở Nha Trang. Hôm trước H. có hẹn với tôi ngày về ghé lại Nha Trang lai rai một bữa cùng thi sĩ Bút Rè (Butsref)–từ Huế vào -  và nhóm blogger Sao Biển.  Nhưng trong lúc đi xe tôi liên lạc hoài không được. Bây giờ thì không hy vọng gì nữa, tôi thả bộ ra bờ biển. Nhưng vừa đi mấy bước thì một chiếc Honda tấp lại bên cạnh. “Anh Văn! Lên xe mau, bọn tôi đang đợi!”-“ Đợi cái gì! Sao bây giờ mới đến, cũng không chịu nghe điện thoại!”-“Điện thoại bị hết pin anh à. Cả ngày hôm nay tôi bận ở ngoài cảng cá. Thôi lên xe anh, đàn em tạ tội với đại ca sau.”-Thôi khỏi, còn một tiếng rưỡi xe chạy rồi.”- “Bỏ chuyến xe đó đi anh, mai tôi gởi anh lên tàu đi Huế luôn.”- “Uổng tiền mày, vé xe du lịch lữ hành bốn trăm ba chục ngàn, tau mới đi hết một trăm ngàn.”-“ Bỏ đi mà, ngày mai đi tàu giường nằm, tôi lo.” – “ Thôi, ra bờ biển làm ly cà phê được rồi. Chuyến vào tao sẽ ghé.” Do tôi dứt khoát từ chối, H đành chìu tôi.
  Biển chiều đông người, gió mát rười rượi. Chúng tôi kiếm một quán vắng, ngồi nhìn ra biển. Nhắp vài ngụm bia, ca dăm ba câu về thi sĩ Bút Rè, về nhóm Sao Biển , rồi H khề khà: “ Anh đi xe giường nằm cẩn thận nghe”- "Sao?”-“Tây nhiều lắm, nhiều cô tóc vàng đẹp như tiên”. “Liên quan gì tới tao”. “ Ai biết sẽ thế nào. Để tôi kể anh nghe chuyến đi năm ngoái của tôi, anh sẽ thấy ớn”.- “ Hà hà, hay thật, không biết xuất hành giờ đẹp hay sao mà hôm nay nghe được nhiều chuyện quá.”. Tôi coi lại đồng hồ, còn 1g nữa. “ Mày kể đi, ngắn gọn, chỉ nửa tiếng nữa thôi đó”. –“OK”. Cụng một cái cốp, hai chúng tôi nốc một ngụm bia lớn. Khà một tiếng, H bắt đầu.
*
Giã từ thành phố biển, tôi lên xe – chiếc xe giường nằm cao cấp, để ra Huế. Ai kia ngồi cái ghế cao cấp làm sao khoái bằng ta nằm trên cái giường cao cấp! Chỉ thêm mấy chục ngàn mà thấy mình giá trị hẳn ra. Chỗ nằm cao cấp của tôi bây giờ là một ô rộng đủ cho một gã đàn ông 54 kg có thể nằm duỗi dài chân trong một cái hộc. Lưng giường nghiêng một góc 25 độ, có thể điều chỉnh độ dốc cao hơn tùy ý. Làm cấp cao một đoạn đường cũng đáng đồng tiền lắm chứ!
  Nhưng cái đáng đồng tiền hơn chính là bạn đồng hành nằm bên cạnh tôi. Phía bên phải là bà Tây mập mạp, không nói làm gì, nhưng nằm bên trái tôi là một cô Tây tuổi ngoài 30, xinh như mộng. Bởi không nói thông tiếng Anh nên sau vài câu hỏi xã giao, tôi đành cười cười để kết thúc hội thoại, rồi giam mình trong cái hộc cô đơn.  Cô đơn trong cái hộc của mình giữa những người đến từ bên kia bán cầu, biết làm chi hơn là là lim dim mắt sống với những cuộc tình dở dang trong dĩ vãng hoặc thả hồn cho những mộng tưởng xa xôi… hoặc, thỉnh thoảng giao lưu với nàng bằng ánh mắt – phần lớn là đơn phương. Áo nàng vàng, cổ áo thì rộng, nên nhiều lúc sự giao lưu bằng ánh mắt bị trở ngại. Tự mình không cho phép mình thôi. Nếu nàng biết mình nhìn trộm thì quê lắm, với lại…Dù sao một chút viễn mơ để nhận ra mình vẫn còn trai trẻ, tuy rằng…
  Cũng may nàng lấy cuốn sách ra mải mê đọc, chẳng quan tâm giao lưu với ai. Cuốn sách có tựa là VIETNAM in bằng tiếng Anh, có nhiều tranh ảnh. Nàng đang tìm hiểu về đất nước của gã đàn ông nằm bên cạnh nàng đây. Nghĩ thế, tôi cảm thấy giữa tôi và nàng trở nên gần gũi xiết bao. Bỗng “con dế” rung lên trong túi quần. Tin nhắn của Đồng thị Quê Hương.
Anh den quang nam chua?  thay ngu hanh son que ngoai em dep ko?
   Nằm ở dãy giường giữa xe tôi đâu thấy gì ngoài cái áo vàng cổ rộng của cô gái từ phương Tây xa xôi đến nằm bên cạnh! Thoáng một ý nghĩ khôi hài : Ngũ Hành Sơn thì không thấy, chỉ thấy Núi Đôi thôi! Nhưng chợt thấy mình có lỗi với Đồng thị Quê Hương, tôi gởi cho nàng một tin nhắn như để nhắc nhở mình, còn nàng đọc chắc là ngơ ngác:
Que huong neu ai ko nho, se ko lon noi thanh nguoi
  Lời nhắc về quan niệm sống tình nghĩa này thêm một lần bị thử thách trước khi khắc sâu vào trái tim mềm yếu của tôi.
  Đó là lúc xe vào đường hầm Hải Vân. Tưởng như xe như đi vào đêm. Trong ánh điện vàng mờ mờ, nàng Tây trông thật quyến rũ. Nhìn ngắm cảnh đường hầm hun hút rồi liếc nhìn cô nàng nằm bên. Cùng trong hầm tối, cùng một chuyến xe, nằm cạnh bên nhau, thấy Ta – Tây gần gũi thân thiết quá, chỉ một với tay thôi, chỉ cần một chút liều lĩnh… Tâm tư khởi lên những tà niệm không sao diễn tả nổi… Đúng lúc đó, như trong mơ, nàng Tây nhìn qua tôi, ánh nhìn mê hoặc. Như người mộng du, tôi nhoài người sang
Bỗng “cộp”!... Cái đầu tôi va mạnh vào cây cột giữa xe, ê ẩm . Tôi choàng tỉnh…
May thay đường hầm đã sáng dần lên. Ánh nắng trưa Thừa Thiên như một nhát chổi quét sạch những cảm nghĩ linh tinh.
  Nàng Tây quay qua nhìn tôi mỉm cười, nụ cười hồn nhiên trong trẻo như một thiên thần.
  Tôi cười xã giao, có phần hờ hững, vì đôi mắt tôi đang bị biển đẹp Lăng Cô cuốn hút và cả hồn tôi đang chìm đắm trong những hoài niệm về Quê Hương.
Tôi khẽ ca:
  Ta về ta tắm ao ta
    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
*
  -Tiếp đi.
  -Hết rồi anh. Từ Lăng Cô đến Huế không có gì xảy ra!
  -Lãng xẹt!
  -Thì rứa thôi. Bộ có chuyện xảy ra anh mới khoái chí sao! Kể chuyện tào lao cho anh đỡ buồn. Cho vui thôi mà.
“Cho vui thôi mà”. Chẳng phải mình vẫn tâm đắc mấy chữ ấy lắm sao. Tôi cười với H, giọng kẻ cả: “Chú đúng là linh tinh. Quê Hương mà biết chú vọng ngoại như rứa thì chú chỉ còn đường bỏ làng bỏ nước mà đi. Anh VỮNG VÀNG hơn chú nhiều.”
H nhìn tôi cười cười, đầy nghi hoặc.

chuồn chuồn
29/8/2011
ẢNH MINH HỌA

8 thg 12, 2010

Mùa đông phố núi (thơ thanhdalat)

1.
Chờ đông

Cứ ngỡ mùa thu chưa qua
Mây trời vẫn màu bàng bạc.
Tơ chùng ai gieo từng giọt
Ru hồn quán vắng chiều mưa
*
Cứ ngỡ tình thu chưa già
Đường chiều còn nhiều lá rụng
Còn nghe trong ta tiếng vọng
Của tháng ngày xưa mưa nhòa…
*
Cứ ngỡ màu thu chưa phai
Dã quỳ cứ xanh bờ bụi
Lập đông sao mưa chưa ngớt,
Chiều qua còn trĩu hồn ta?
*
Cứ ngỡ hồn thu còn đây
Mưa dầm bủa vây kín lối
Ngoài hiên mưa giăng mành lưới
Quẩn quanh mái hẹp ngày dài…


th@nhdalat
24/11/2010

2.
  Khúc giao mùa phố núi

Ngỡ thu chưa đi
Mây còn bàng bạc
Tơ chùng từng giọt
Ru hồn quán trưa
*
Ngỡ thu chưa già
Đường còn lá rụng
Còn nghe tiếng vọng
Ngày xưa mưa nhòa
*
Ngỡ đã êm trôi
Con tim tháng hạ
Ngày thu không vội
Tình không thiết tha
*
Sáng nay nắng lạnh
Thắp sáng quỳ hoa
Mưa thu đã tạnh
Mùa đông đã là…
*
Mùa thu đã xa
Đường mưa đã khô
Khoác thêm áo ấm
Nhìn mây giang hồ…

th@nhdalat
24/11/2010

27 thg 11, 2010

Thăm lại phố huyện cũ. (thơ thanhdalat)

Đơn Dương buồn hơn trước
Chị ngồi rỗi trước nhà
Nắng trưa hanh ngõ vắng
Khách ơ hờ dạo qua.
Công sở dăm nhà cổ
Dấu xe rêu phủ mờ.
Ơi ngày xưa huyện lỵ,
Những rộn ràng xa xôi...
Đường quanh lên trường cũ
Đâu rồi áo trắng bay?
Cánh chuồn chờn chợ mãi...
Buồn nhớ chi những ngày...
Đi quanh tìm chẳng thấy
tiếng cười em thuở nào.
Chuyến xe về nặng trĩu,
Buồn xưa đọng chiều nay...

th@nhdalat
  4/93
-----------------------------------
-Đơn Dương : Một huyện nhỏ cách Dalat khoảng 40 km. Ngày xưa huyện lỵ đóng tại thị trấn D'ran, khoảng đầu những năm 1990 dời về thị trấn Thạnh Mỹ.
-Trường cũ: Trước 1990, Đơn Dương chỉ có một trường trung học, nằm trên một ngọn đồi, sau đó dời về phố.
-Hồ Đa Nhim : ở đập thủy điện Đa Nhim . Đa Nhim nghĩa là nước mắt.(theo tiếng người Chil).

4 thg 10, 2010

Mấy ngày nghỉ hè ở Huế - 5. ĐÙA VUI VỚI BIỂN


Hải tặc? (ảnh mờ vì phó nhòm sợ quá run tay)

 
Kỳ phép hè năm nay của tôi bị rút ngắn vì một lý do không đâu, vì vậy thời gian ở Huế trở nên quý báu. Tôi “tranh thủ” bất kỳ cơ hội nào để được đi ngoạn cảnh ở nơi xa ngoài thành phố với bạn bè. Mình thì rảnh rỗi nhưng bạn bè thì phải tất bật mưu sinh, lại còn vợ bìu con ríu nữa chứ. Bởi rứa, để có bạn cùng đi không phải dễ dàng như thuở học trò.

Sáng nay, đang ngồi ngoài sân ngắm nhìn mấy giò lan rỡn nắng thì nghe điện thoại reo – tiếng reo vui hơn mọi ngày. Tôi vào nhà lấy máy nghe. Giọng Tô:
-Đi biển không?
-Đi, đi chứ. Đang không biết làm chi đây. Tui vội nói như sợ Tô đổi ý.
-Rứa thì gọi Đính nghe.
Cuộc chơi đã khởi động. Những đầu việc xuât hiện: liên lạc tập hợp chiến hữu,


 chuẩn bị hành trang, lên kế hoạch, phác thảo lộ trình,…
**
8 giờ nhóm ba người chúng tôi lên đường, nhắm hướng Thái Bình Dương xuất phát. Lộ trình : Qua cầu Tràng Tiền, xuôi Đập Đá, qua Vĩ Giạ, chợ Mai, chợ Nọ là đến Thuận An.
Trước khi ra biển cửa Thuận, chúng tôi ghé qua làng An Bằng, nơi có thành phố mới tạo dựng ven bờ biển. Dưới nắng mai, thành phố càng thêm rực rỡ sắc màu. Những mái nhà kiểu cổ với những đường nét rồng chầu phượng múa chen nhau khoe vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ.
Chúng tôi tìm chỗ dựng xe, thật là một việc nhọc nhằn khi phải xoay trở trên vùng đất cát trắng. Tô dựng xe xong, đi vội vào thành phố không người, đưa máy ảnh chụp mấy pô. Tôi và Đính đi đến những phía khác tìm một góc độ thích hợp để thu lấy cho được cái hồn thành phố - một thành phố yên ắng nhưng không buồn, không gợi cảm giác u trầm, tịch lặng như ở lăng mộ các vua triều Nguyễn, có lẽ bởi màu sắc rực rỡ và mới mẻ của nó- thành phố lăng mộ bên bờ biển đông.
Thành phố lăng bắt đầu được xây dựng ồ ạt từ năm 1991. Người dân làng có bà con định cư ở nước ngoài làm ăn khá giả gởi tiền về xây lăng mộ như là một cách báo hiếu. Mộ càng to lớn được hiểu như là chữ hiếu càng cao. Có đến 70% người làng định cư ở nước ngoài, do đó việc xây lăng có điều kiện phát triển như nấm sau mưa.  Cả một phong trào thi đua bày tỏ chữ hiếu tự phát diễn ra rầm rộ lôi kéo cả những gia đình nghèo vào cuộc. Việc đua nhau xây lăng mộ còn là cách thể hiện “đẳng cấp” của nhà mình và dòng họ trong cộng đồng làng xã. Bởi thế có người bán đất để xây một cái lăng mộ lớn cho “bằng chị bằng em”dù nhà ở cho mình thì chỉ là mái lá lụp xụp. Tính ra , có đến mấy nghìn cái lăng được xây, tổn phí mỗi lăng, ít thì 150 triệu, nhiều thì đến hơn 2 tỉ đồng.
 (ảnh : Net)
Việc xây lăng và chạm trổ hầu hết đều do các tay thợ trong làng làm, rất khéo tay và chuyên nghiệp. Ở đây người ta có thể thấy hội tụ nghệ thuật điêu khắc đá, vẽ tranh, hoa văn và kỹ thuật gắn miếng vỡ từ loại chén bát có men ở trình độ cao. Không phải vô cớ mà thành phố lăng ven biển này có sức thu hút du khách thập phương một cách mạnh mẽ. Bà Help Charity, một du khách đến từ nước Anh nói: “ Những đường nét rất tinh tế, nó mang một vẻ tự nhiên…Đó là những nét đẹp đầu tiên thu hút tôi tới đây”.(VTV)
  
Tôi đứng giữa thành phố lăng mộ mà không có cảm giác đìu hiu u trầm. Quả là lạ. Điều này dấy lên trong tôi ý nghĩ : Phải chăng thành phố lăng là sự hiển thị một quan niệm mới về lẽ sống chết? Và việc xây lăng thật to, thật cầu kỳ phải chăng là vì người sống hơn là vì người đã khuất?
***
Bỏ lại cho thành phố lăng những suy tư tâm linh, chúng tôi chạy xe về phía biển nắng. Tô đưa chúng tôi đi vào xóm, đến nhà người bà con để mượn những đồ nhà bếp: son, chảo, chén đũa, bếp ga,… rồi qua cảng cá Thuận An cách đó 3 km. Đã 10 giờ, cảng cá sáng ngời dưới nắng. Có năm chiếc thuyền đánh cá lớn neo đậu. Người mua kẻ bán xôn xao. Chúng tôi hòa vào đám đông, đi đến tận những con thuyền cập cảng đang chuyển cá xuống bến. Việc mua bán diễn ra ngay đó. Những giỏ cá bằng nhựa đầy vun. Mỗi giỏ đựng một loại cá. Tô mua một kg cá ngân tươi rói. Tôi và Đính cũng sục sạo từ thuyền này sang thuyền khác, nghiêng nghiêng ngó ngó như muốn thu hết cảnh sinh hoạt nhộn nhịp của cảng cá. Bởi đây là lần đầu tiên tôi và Đính được chứng kiến và tham gia như một người buôn cá “dỏm”, hay nói theo cách người dân ở cảng cá tưởng nhầm-chúng tôi là những phóng viên ( mà thiệt ra, cũng “dỏm” luôn). Hic.
    
Vũ điệu SONG NGƯ                                                       Đi chợ về

Căn lều chúng tôi thuê ở vị trí tương đối gần lối vào bãi biển. Nắng trưa chói chang như muốn xuyên qua hai lớp vải bạt trên mái. Gió lộng thổi căng, tấm vải bạt che bên phía nắng như cánh buồm no gió. Biển sáng trước mặt. Cả một bát ngát, mênh mông phơi phới ùa vào lòng chúng tôi. Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, bọn tôi đã gần như người nguyên thủy. Có khác hơn họ chăng chỉ là cái quần xà lỏn mỏng manh. Vậy mà dì gió còn tinh quái thổi mạnh khiến vải quần ôm sát rạt vào da thịt. Ô, mà cũng chẳng là vấn đề gì, vì tụi tui đều là liền ông cả ha ha ha…
Rồi, không “trì hoãn thêm phút giây sung sướng”* nào nữa, chúng tôi tẻn tèn ten lao ngay xuống biển, hụp đầu vào đại dương mát rượi, nhoài người bơi nhẹ theo sóng từng đợt dập dờn… Đầu óc rỗng rang. Bao nhiêu ưu tư như đã gởi trả cho phố phường. Chúng tôi vui đùa với sóng-như trẻ con. Sóng biển từng đợt, từng đợt gột rửa sạch những tạp niệm từng làm khổ tâm hồn chúng tôi. Tâm hồn chúng tôi đã như người nguyên thủy. Giữa thiên nhiên biển rộng tâm hồn chúng tôi sạch sẽ và thể xác chúng tôi cũng thảnh thơi. Cái quần đùi xà lỏn mỏng manh còn lại không hề gây cảm giác cản trở chúng tôi đến với tự nhiên.
Bữa ăn trưa dã ngoại chúng tôi tự làm bếp, như hướng đạo sinh, thật tuyệt vời. Cá tươi luộc chín , không có gia vị nhưng vị ngọt tự nhiên đậm đà không sao tả xiết. Chúng tôi mua thêm ít bánh bột lọc, đậu phụng luộc để lai rai. Một két bia Huda để sẵn giúp giải khát sau mỗi miếng mồi.
 
Như thể từng đợt sóng xô vào bờ, chúng tôi hết lai rai với bia lại nhào xuống chơi với biển, chơi bưa sức với biển lại chạy lên bờ lai rai với bia, hết lai rai với bia lại nhao xuống đùa vui với biển, chơi bưa sức với biển lại lên bờ lai rai với bia…
Khi đã đủ vui và đủ mệt, tôi lên bờ ngồi nhìn ra biển. Trong lều Tô thiu thiu ngủ, Đính cầm máy ảnh đi săn ảnh. Từ xa, dáng còm nhom của Đính thoắt biến thoắt hiện bên những người đẹp tóc vàng cao lớn, thân hình nở nang đang giỡn sóng mép bờ. Tôi vẫn chưa rời những con sóng. Ngồi sát bờ nước, tôi để những lượn sóng tràn qua người. Có những lượn sóng lớn đẩy lùi tôi ra sau. Bỗng nhớ những lời ca về biển của Trịnh Công Sơn.

Biển sóng,biển sóng đừng xô tôi…
Đừng xô tôi ngã dưới chân người…
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi…
Đừng cho tôi thấy hết tim người…

Trịnh nhìn sóng với cái nhìn thật lạ. Với ông, sóng biển là hình ảnh sóng tình . Ông viết: “Những đợt sóng tình xô đẩy ta, làm ta đau khổ. Ta phải đẩy lùi lại nhưng với một tấm lòng khoan dung, nhân ái để thoát khỏi khỏ đau. Và mơ ước sóng với ta cùng sống hoà hợp, hiền hoà trong đời sống ngắn ngủi, mỏng manh này”.
Biển sóng, biển sóng, đừng xô nhau…
Ta  xô biển lại , sóng về đâu…
Biển sóng, biển sóng đừng trôi xa
Bao năm chờ đợi sóng gần ta…
Một buổi sáng nhìn biển, ông chợt nhận ra: những con sóng tình này dìm chết người giữa dòng tình, giữa bể ái nhưng nó cũng giúp đưa người qua bến bờ giác ngộ.

Một lần khác, trước biển khơi xôn xao bao người giỡn sóng, chỉ có Trịnh nhìn thấy:
Có người im lặng,
có người vui đùa, giữa cuộc vui
Biển ơi!
em đùa đùa chơi à.. ơi
Bờ xa có người im lặng. Biển ơi!

Biển ơi! Có người im lặng
Biển ơi! Có người muôn trùng
Biển ơi! Có người im lặng
Biển ơi! Có người muôn trùng
Biển ơi! Có người vui đùa
Biển ơi! Có người xa vắng.

(Muôn trùng biển ơi) 
Trịnh cô đơn quá, ngay cả khi đứng trước biển đầy nắng và gió trùng khơi. Còn tôi? Phải chăng tôi đã an lạc trước biển? Không, chỉ là một ngày mượn nắng và gió và biển và sóng để ru giấc chiêm bao mà thôi.
*
Đến 3 giờ chiều thì chúng tôi cũng đã đủ đen giòn để mang nắng gió của biển về nhà. Khi chuẩn bị nhổ neo thì có một thuyền cá cập bờ. Chúng tôi chạy tới – như thể phóng viên. Chụp hình. Nghiêng nghiêng ngó ngó. Đính mua 2 ký ghẹ, tui một ký cá. Thật đúng là những gã đàn ông tốt. Đó là những món mà chúng tôi đem về nhà cho người thân như để chia sẻ ít nhiều niềm vui của một ngày đi biển.

***
Trên đường về, chúng tôi còn cố kiếm lời bằng cách nhét vào hành trang đi biển của chúng tôi thêm một món nữa: đi thăm ngôi tháp Chàm vừa mới được phát hiện mấy năm trước đây.
Đó là Tháp Chăm Mỹ Khánh (ở thôn Mỹ Khánh, xã Phú Diên, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế), sau đổi tên là Tháp Chăm Phú Diên. Ngôi tháp này đã bị vùi lấp dưới một đồi cát ven bờ biển suốt mấy trăm năm trước. Tháng 4/2001, khi đang khai thác quặng Titan dọc bờ biển xã Phú Diên, người ta phát hiện một khối gạch lớn vùi sâu 8m trong lòng cát. Đó chính là một trong những tháp Chàm cổ nhất Việt Nam đứng ở độ cao hơn mực nước biển chỉ có 1,8 m và cách mép nước khoảng 100 m. (Đây là một điều khiến nhà khảo cổ lưu ý, vì hầu hết tháp Chàm đều được xây dựng trên những ngọn đồi cao).
 
Tháp được xác định niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 8, tức là được xây dựng cách đây 12 thế kỷ. Lúc đó nước ta đang là thời kỳ Bắc thuộc; Chăm pa, thời kỳ đó là Vương triều Panduranga (còn gọi là Hoàn Vương quốc), một đất nước hùng mạnh, đã hai lần tấn công châu Hoan và châu Ái (Thanh Hóa , Nghệ An) nước ta, mang về nhiều phẩm vật. Ngôi Tháp Chàm Phú Diên là dấu tích của người Chăm thời kỳ hưng thịnh đó. Khi chúng tôi đến thì ngôi tháp đã có nhiều dấu hiệu xuống cấp. Nguyên nhân một phần do sự bất cập về công tác bảo tồn, phần khác còn do người dân lấy đất trên tường của tháp để làm thuốc chữa bệnh.

Dưới nắng xế chiều vàng, gió biển lao xao hàng thông ven bờ biển vắng, tôi đứng lặng yên trước ngôi tháp cổ xưa mà lòng tràn ngập niềm ngưỡng vọng. Ngưỡng vọng trước cái tuổi già 12 thế kỷ của tháp, càng ngưỡng vọng hơn trước nét đẹp tinh xảo của công trình kiến trúc cổ, ngưỡng vọng những bàn tay tài hoa đã làm nên nó. Tưởng như thấy những dáng hình vũ công khắc nổi trên các tháp Chàm đang uốn lượn nhịp nhàng. Nơi đây hàng ngàn năm trước đã có hàng đoàn người vào đây cúng bái, ca múa , đã có những ngày  rộn ràng lễ hội. Nhưng chiều  nay, khi tôi đến nơi này thì, than ôi
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ…**
 
***
Tưởng như Ngôi tháp Chàm in bóng suốt trên đường về, nhưng khi đi ngang Vĩ Dạ thì những hàng cau thôn Vĩ đã kéo tâm hồn chúng tôi về một thế giới khác, thế giới của một thời thơ ca lãng mạn đẹp đẽ . Mới ngày nào Hàn Mặc Tử đã qua đây, đã buồn vui những ngày thôn Vỹ. Chừ đây, nắng cũng thắp sáng hàng cau và cũng đem lại niềm vui, niềm vui nhẹ nhàng của một buổi chiều ngoại ô êm ả.
 Hàng cau Vĩ Dạ đã đi vào thơ ca lãng mạn, nhưng ít ai biết, có một hàng cau khác, ở thôn láng giềng của thôn Vỹ đã đi vào thơ ca dân gian từ thời xưa với nét cười hóm hỉnh:
Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau.***
Tôi khẽ cười khi tưởng tượng tới cái cảnh ngộ nghĩnh đó.
Rứa đó, chuyến đi biển của tui trong MẤY NGÀY NGHỈ HÈ Ở HUẾ đã kết thúc với nốt nhạc vui.

th@nhdalat
28/9/2010
 ...................................................
 *Chữ dùng của Vũ Trọng Phụng.
**Ông Đồ - Vũ Đình Liên.
***Ở lỗ: ở truồng.(ăn lông ở lỗ). Nam Phổ: Một thôn nhỏ bên cạnh thôn Vĩ Giạ, có món ăn nổi tiếng xứ Huế: Bánh canh Nam Phổ.