29 thg 9, 2010

Mấy ngày nghỉ hè ở Huế - 4. THĂM LẠI ĐỒI XƯA

Về Huế luẩn quẩn trong phố mới hai ba hôm đã thấy nhớ ngoại ô và những ngọn đồi phía Tây Nam thành phố, tôi rủ Tô lên đường Nam du . “Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng” đưa chúng tôi rời Huế đến vùng đồi của những lăng tẩm. Đến đàn Nam Giao, tôi dừng xe ngoái nhìn lại tìm cột cờ Phu Văn Lâu để xác nhận sự chính xác của câu văn xuôi đầy chất thơ của nhà thơ Xuân Diệu là đúng với thực tế, rồi đi tiếp. Qua một khúc quành, chúng tôi đến khu vực lăng Tự Đức. Tô bảo tôi dừng lại để đi xem cây sanh cổ thụ mới được Công ty Làng Việt di dời từ vùng núi A Lưới về nơi này cách đây mấy tháng. Việc đưa cây sanh cổ thụ từ trên núi về thành phố và chăm sóc cho nó sống tiếp cuộc đời dài bằng mấy đời người quả là một kỳ công. Dự định ban đầu của Công ty Làng Việt là thuê trực thăng chở về, nhưng vì một lý do nào đó không thực hiện được. Sau Công ty đã thuê hai xe cần cẩu đưa nó về Huế. Phải mất tới hai ngày đêm vượt qua hơn 50 km, qua những đoạn đường núi cheo leo giữa vách núi và vực sâu, cuối cùng cây sanh cổ thụ đã đến được nơi ở mới. Kỳ công thứ hai là trồng lại cây sanh này trên nền đất mới, đất đồng bằng. Khi chúng tôi đến thì nó đã yên vị, cành lá xanh tươi, oai vệ đứng bên đường, chỗ mà sau này là cổng vào của khu du lịch nghỉ dưỡng Làng Việt. Cây sanh cổ thụ được bảo vệ kỹ lưỡng, có hàng rào và phên che. Nhờ quen với một người dân ở gần đó nên Tô và tôi được cho vào xem tận nơi…
Tuổi cao tác lớn của cây sanh cổ thụ khiến cho con người kính trọng.( ở nơi ở cũ, cây sanh này được người dân địa phương thờ như vị thần thành hoàng và trước khi di dời nó, Công ty Làng Việt đã làm một lễ để xin phép). Tuy nhiên, đối với những người làm nghề kinh doanh du lịch thì việc bỏ ra một món tiền lớn, dành một sự nâng niu, chăm sóc đặc biệt cho cây sanh cổ thụ không hẳn do lòng kính ngưỡng tuổi tác của nó mà vì lý do thực tế hơn nhiều: lợi nhuận mà nó đem lại.
Nhìn ngắm cây sanh cổ thụ với dáng đứng hùng vĩ ở một vùng ven thành phố, tôi chạnh nghĩ tới nỗi trống vắng của một vùng núi mà từ bao nhiêu năm qua cây sanh này đã là bóng râm quen thuộc, đã là hình dáng quen thuộc. Sự quen thuộc không chỉ của núi rừng mà còn với bao thế hệ con người nơi đó. Người dân vùng này có việc qua nơi ở cũ của cây sanh cổ thụ, thấy một khoảng trống, chắc hẳn lòng cảm thấy một mất mát khó thể nguôi ngoai.
**
Rời cây sanh có cái mạng lớn, chúng tôi tiếp tục đi về hướng đồi Vọng Cảnh. Đây là một ngọn đồi thấp , cao khoảng 43m, cách Huế 7 km về phía Tây Nam ,chân đồi tiếp giáp bờ sông Hương, đối diện với điện Hòn Chén. Nằm nghỉ ngơi giữa vùng lăng tẩm, đồi Vọng Cảnh là một danh thắng của cố đô. Cái đẹp không ở hình dáng ngọn đồi mà ở chính vị trí tuyệt đẹp của nó, như tên gọi, đứng trên đồi mà nhìn ngắm cảnh sắc sông Hương thì không nơi nào bằng. Trong một tập địa phương chí về thị xã Huế (được biên soạn vào năm 1973), phần Thắng cảnh và du lịch có một đoạn viết về Vọng Cảnh như sau:
"Soi bóng trên dòng sông Hương nước chảy lờ đờ, đồi Vọng Cảnh gần sát lăng Tự Đức là một ngọn đồi cao, chung quanh gò đống nối nhau như rồng cuộn. Đứng trên đồi nhìn xuống mới thấy tất cả cái vẻ đẹp thơ mộng của non nước Hương Bình, núi sông hòa điệu nhịp nhàng với không khí trầm mặc, êm ả, xa xa lăng tẩm các nhà vua ẩn hiện dưới bóng cây xanh và từ đồi Vọng Cảnh nhìn qua bên kia sông Hương là điện Hòn Chén”.
 
     Đồi Vọng cảnh       Điện hòn chén .     Lăng Tự Đức      Lăng Đồng Khánh    .Lăng Thiệu Trị 
  Phía trên:     Chùa Thiên Mụ .       Trong vạch màu   Kinh thành Huế 


  Năm 2004, UNESCO đã có văn bản mời tỉnh Thừa Thiên lập hồ sơ đưa sông Hương và cảnh quan đôi bờ - trong đó có đồi Vọng Cảnh – tiến cử vào danh mục di sản thế giới. Thế nhưng chỉ sau đó một năm, ngọn đồi di sản này có nguy cơ bị hủy hoại bởi một dự án xây dựng khách sạn trên đó. Đó là một dự án lớn của một nhà đầu tư Hà Lan nhằm biến ngọn đồi này thành một khu du lịch trong một hệ thống Life Resorts trên lãnh thổ Việt Nam . Công cuộc xây dựng được tiến hành nhanh chóng. Chỉ sau mấy tháng có quyết định của UBND Tỉnh, đơn vị thiết kế đã cho khoan thăm dò địa chất để thiết kế nền móng cho công trình tại khu vực đồi.
 
Phối cảnh khách sạn trên đồi Vọng Cảnh

Khi các nhà trí thức, các nhà văn hóa lên tiếng bảo vệ thì nó đã bị khoan 5 lỗ. Tuy nhiên, dù vào cuộc chậm hơn, bước đi chậm hơn các nhà kinh doanh; các nhà trí thức, các nhà văn hóa ở Huế và cả nước cũng đã cứu được ngọn đồi xinh đẹp. Hôm nay lên thăm lại đồi Vọng Cảnh, lòng không khỏi vui mừng thấy ngọn đồi thân thương vẫn nằm yên lành bên bờ sông Hương. Dự án kia, sau mấy lần điều chỉnh, đã tìm được một nơi thích hợp hơn, đó là cồn Hến.
 
Lên đồi, đi quanh một vòng, bỗng nhớ câu thơ của Bùi Giáng:
Dạ thưa phố Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
Thế sự và phố phường đã lắm lần bể dâu nhưng dòng Hương vẫn còn lặng lẽ trôi êm đềm, và đồi Vọng Cảnh, sau một lần thoát nạn , lại vẫn nguyên dáng xưa yêu kiều bên dòng sông mộng.




Lát sau thì Hồng đến, chúng tôi chụp thêm một số ảnh “nghệ thuật”: Vọng Cảnh trong nắng chiều.



"Ảnh nghệ thuật" của Nguyễn Văn Hồng

Nguyễn Tô vẫn còn duyên dáng lắm! (ảnh của Nguyễn Văn Hồng)

 Nguyễn Văn Hồng vàng rực trong nắng chiều (ảnh của Nguyễn Tô)
Đường về ở vùng đồi thật êm ả, vắng vẻ, ít nhiều đìu hiu khiến lòng người lắng xuống. Hai bên đường là những hàng thông cao, bóng râm đổ xuống mặt đường nhựa thẫm đen dần. Nhớ hồi đó, mấy anh em tôi trong độ thiếu niên vẫn thường đạp xe qua lối này lên Thiên An hốt rác thông khô về chụm bếp thay cho củi (củi hồi đó rất đắt). Dù phải đi kiếm rác xa, chúng tôi vẫn mong đến chiều thứ bảy để đi “lao động” theo lệnh của ba tôi. Vì thật ra, đối với chúng tôi, đó là những cuộc du lịch dã ngoại vô cùng thú vị. Trên đồi thông bát ngát, giữa một vùng thiên nhiên xanh tươi trong lành chúng tôi mặc sức chạy nhảy leo trèo, tha hồ hú gọi để nghe âm vang trong trẻo hồn nhiên của mình từ những ngọn đồi chung quanh vọng lại; vui chơi mệt thì nằm trên cỏ mềm lặng ngắm mây trời và thả hồn mơ mộng. 
Rồi cũng lối đi này, ngày xưa đạp xe cùng tôn nữ qua mấy ngõ hoa để rồi gió cuốn mây bay cách một đại dương, cách mấy bờ mộng mị…
Ôi, chỉ đôi phút hồi tưởng mà sao thấy lòng hiu hắt không đâu
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
Giật mình nhìn ra... ồ phố xa lạ…
(TCS)
Ừ hí, rứa mà đã hơn phần tư thế kỷ trôi qua rồi.
Hoài niệm cùng đi theo tôi thêm một đoạn đường dài. Xuôi dốc Nam Giao, chúng tôi về đến phố. Lặng nhìn dòng Hương êm trôi, lòng tôi nghe vang vọng câu thơ của ai đó mà giờ tôi đã quên tên:
Anh về bên sông nhặt hòn cuội nhỏ
Ném thia lia vào kỷ niệm mù tăm…*

th@nhdalat
18.9.2010
…………………………………………………
* Hình như thơ của Lê Đức Dục
Nguyễn Văn Hồng vàng rực trong nắng chiều (ảnh của Nguyễn Tô)

2 thg 9, 2010

Mấy ngày nghỉ hè ở Huế - 3 Trở về với gánh cơm hến


Về nhà nghỉ được một ngày, vừa rũ gần sạch bụi đường xa thì đã nghe Hùng gọi điện thoại hẹn lát nữa đi ăn cơm hến. Đã nghe giọng Huế thứ thiệt lại thêm hai tiếng cơm hến nữa thì cảm giác Huế đã rõ ràng rồi, nghe như cái vị hến thấm ở đầu lưỡi. Lòng thấy ấm áp trước tình bạn học cũ nồng hậu.
Nắng Huế lên sớm. Mới 7 giờ sáng đã một sắc vàng đậm đà, khỏe khoắn chan hòa trên cây lá, chảy tràn trên các nẻo đường. Hùng dừng xe trước nhà Tạo. Tui tưởng mình hoa mắt. Căn nhà cổ thâm nghiêm bên bờ sông An Cựu răng sáng ni xôn xao kẻ ngồi người đứng? Ngồi trước bậc thềm nhà là một người phụ nữ khá đứng tuổi đang thoăn thoắt múc cơm, bỏ hến, các loại rau cùng gia vị , nước dùng vào đoại. Một cô bé tóc cột đuôi gà nhanh nhẹn đem từng đoại cơm hến cho khách ăn. Nhìn kỹ, tôi ngỡ ngàng nhận ra người phụ nữ bán hàng ấy là Loan, vợ của Tạo, còn cô bé tóc đuôi gà là bé Lan, gái út của Tạo. Hùng nói:
- Cơm hến đây ngon lắm, ngồi xuống làm một đoại đi.
Hùng kéo tay tui lúc tui còn tần ngần nhìn Loan, mới năm ngoái về còn thấy điệu đàng quý phái... Dù việc làm ăn của Tạo lúc đó đã xuống dốc nhưng nàng vẫn còn giữ nếp nhà, giữ cái phong thái đường hoàng hợp điệu với ngôi nhà cổ kính. Loan mải việc không nhìn thấy tui. Tui vội kéo tay Hùng theo lối hẹp vào nhà sau . “Thôi, vào gặp Tạo đã”. Hùng nói :“Mi ngại chi rứa”, nhưng cũng đi theo tui.
Vừa vào đến khoảnh sân nhà sau thì đã thấy một gã đàn ông ngồi lúi húi rửa đoại. Cái dáng tròn, mập, đầu cắt tóc ngắn quen quen. Hùng ồm ồm:
-Rửa đoại chi mà chậm chạp rứa hè. Hết đoại múc cơm hến rồi đó!
Gã đàn ông ngước mặt lên, cười nhẹ:
- Lo chi, mô rồi cũng vô nớ thôi.
Tạo đó ư ? Tôi nhìn Tạo, cũng ngỡ ngàng như khi gặp Loan trong dáng vẻ người đàn bà bán cơm hến.
Một đại gia trong nghề buôn phế liệu, ngang dọc Bắc , Nam , với những hợp đồng bạc tỉ bây giờ đang ngồi rửa đoại cho vợ bán hàng ăn sáng! Nhưng càng ngạc nhiên hơn: khuôn mặt Tạo trông thật thanh thản, bình an.
-Mi ra lúc mô?
-Hôm tê. Xuống rủ ông đi cà phê đây.
-Đợi tau một xí. Ăn sáng chưa, cơm hến nghe. Ơ Lan ư.ơ.i…
Tui vội ngăn lại:
-Thôi thôi, tụi tau ăn rồi. Tự nhiên đi.
Hùng vào nhà lấy hai cái ghế thấp, tụi tui ngồi xuống bên cạnh Tạo.
Ngoài kia, trước cửa nhà là cảnh xôn xao ăn uống, nhưng trong này, chỉ cách 10 mét lại là một thế giới của tĩnh lặng. Cách chỗ Tạo ngồi mấy bước chân là cái bể cạn có hòn non bộ ẩn khuất trong lùm trúc cảnh, phía trên cao, dưới mái hiên là mấy cái lồng chim . Tiếng chim hót buổi sáng như đẩy những lao xao ra khỏi khoảng sân rêu
  
Là sĩ quan chế độ cũ, sau thời gian cải tạo, trở về nhà Tạo làm bất kể việc gì để kiếm sống. Lên rừng tìm trầm, chạy xe thồ (xe ôm), buôn gỗ lậu, cuối cùng phất lên nhờ buôn phế liệu. Tạo trở thành nhà buôn lớn ở thành phố Huế. Nhưng cũng chính những năm làm ăn tất bật đó, thằng con trai một của Tạo bỏ học theo lũ bạn xấu lang thang các nơi ăn chơi, đốt tiền ở các chiếu bạc. Vầng trán đã nhăn bởi những lo tính chuyện kinh doanh, lại thêm nhiều nếp nhăn vì đứa con hư hỏng. Cách đây hai năm, nghề buôn phế liệu của Tạo gặp nhiều khó khăn, nhiều chuyến  hàng trốn thuế bị tịch thu. Vừa mất hàng vừa mất các mối làm ăn. Một số bạn hàng trở mặt. Chán nản, Tạo muốn rút chân ra khỏi nghề buôn phế liệu nhưng không thể. Các bạn hàng còn nợ Tạo một khoản tiền lớn buộc Tạo phải tiếp tục công việc để thu hồi dần. Việc làm ăn thua lỗ và nhùng nhằng, đứa con trai bỏ nhà vào Quảng Nam đào thiếc đã khiến Tạo rơi vào một cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Nhưng cũng có cái may, do việc buôn bán trì trệ, Tạo có thời gian để tìm cách thoát ra cơn trầm cảm. Tạo tìm đọc nhiều sách kinh Phật, kinh Thánh, kinh Dịch,… lên chùa đàm đạo với các nhà sư.
Những công phu nầy rồi cũng đem đến cho Tạo một số kết quả. Trong những lúc bạn bè gặp gỡ, Tạo là một diễn giả say sưa nói về con đường giải thoát. Nghe Tạo nói về lẽ thịnh suy ở đời, bạn bè ngồi nghe cũng cảm thấy tâm hồn mình như thanh cao hơn, như đã vượt lên những bon chen đời thường – ít ra là ngay lúc ấy.
Một lần, chúng tôi đang hăng say tranh cãi về một cuộc thi Hoa Hậu, vấn đề trí tuệ của các mỹ nữ chân dài, Tạo buông một câu khiến cả bọn “tắt đài”:
-Hoa hậu chân dài trí tuệ ngắn, hay trí tuệ dài ra răng thì cũng chỉ là cái túi da đựng toàn đồ nhơ bẩn, là sự giả hợp của đất, nước , gió, lửa đó thôi …
Lần khác, chúng tôi đang nói về cuộc gặp gỡ của hai nguyên thủ của hai nước lớn, đối trọng về quyền lực mà ảnh hưởng của cuộc gặp có quy mô toàn cầu. Tạo chậm rãi:
-Một giả tướng nhìn một giả tướng, vì vô minh nên cứ tưởng là thật!
Quả thật, triết lý cao siêu của nhà Phật luôn làm cho lý lẽ của cuộc sống trần gian trở nên tầm thường. Khi mà con người hướng tới từ bỏ tham, sân, si thì đúng là không còn gì để mà ngồi bàn cãi. Hầu như bao giờ Tạo cũng là người kết thúc cuộc tranh luận.
Thế nhưng, sau cuộc gặp mặt ồn ào, bọn tui ra về lòng nhẹ nhỏm – ít ra là vài phút sau đó, thì Tạo ra về với nét mặt trầm tư, với vầng trán đầy những nếp nhăn và một trái tim trĩu nặng. Tạo vẫn đang còn trong cơn khủng hoảng tinh thần.
 
Năm nay gặp lại Tạo, trông bạn khác hẳn. Nét mặt Tạo tràn đầy sự bình an. Sau khi giúp vợ dọn dẹp gọn gàng các thứ sau buổi bán hàng sáng, Tạo cùng chúng tôi đi tìm quán cà phê hàn huyên tâm sự.
Câu chuyện chuyển dần về hướng triết lý nhân sinh. Tạo nhấp một hớp trà, khẽ đặt xuống bàn, thong thả nói:
-Tau đã đọc nhiều kinh sách: Kinh Thánh, kinh Phật , Lão, đoc cả những triết nhân hiện đại như Krishnamurti, Osho,…Tau đi nghe các thầy thuyết giảng đến mê mẩn. Rứa mà cứ buồn sầu triền miên. Buổi sáng đi thể dục, rồi cà phê sáng, buổi chiều lai rai , quên mình đi một chốc, nhưng trở về nhà nhớ tới thằng con đang lang thang trong Nam , nghĩ tới chuyện làm ăn thất bát, những mưu mô, thủ đoạn thương trường tau lại như bị đọa dưới địa ngục. Nhưng chỉ một câu nói của một ông thầy cúng mà tau thức tỉnh. Thầy cúng chứ không phải đại sư, thiền sư chi mô. Cách đây gần một năm, một lần có công chuyện làm ăn tau vào Nam, ngồi gần ông thầy trên một chuyến tàu, nói chuyện cho quên đường dài. Tau lại nổi máu diễn giả, dẫn kinh sách này nọ. Ông nghe, khuôn mặt hiền từ thoáng sắc giận:
-Hỏng rồi, hỏng rồi! Phải xô đổ bức thành dày kinh sách mới mong, mới mong…
Tau cũng nổi giận. Vì tự ái. Từ đó im lặng suốt đoạn đường còn lại.
Nhưng rồi cơ duyên dắt dẫn răng đó, tau lại gặp ông ở sân chùa Từ Đàm trong một dịp lễ. Ông  đang bận nên chỉ chào hỏi qua loa, rồi nhìn sâu vào mắt tau, nói một câu:
-Mỗi người có một cái nghiệp riêng, người nào nghiệp đó. Không ai gánh thay cái nghiệp của ai được mô.
Ông ni trước bảy lăm là trung úy Nhảy Dù, sau khi học tập về, lên núi tìm trầm, may mắn trúng được nửa ký kỳ nam, trở nên giàu lớn. Sẵn tiền, ông ta ăn chơi xả láng, khét tiếng Thọ- Kỳ- Nam . Rồi chẳng mấy chốc núi tiền tiêu tan. Ông ta lại lên núi, nhưng lần này thì cuốc đất làm rẫy. Rồi không biết cơ duyên nào mà trở thành thầy cúng.
Câu nói ngắn ngủi đơn giản của ông thầy cúng đã khiến tau nhìn mọi việc một cách khác hẳn.  Hè năm ngoái, thằng con về nhà, gầy guộc, xanh xao. Tau thuyết cho hắn một buổi. Hắn ngồi nghe, lầm lì, cuối cùng mới nói: “Con là ri đây, ba có nhồi vào đầu con bao nhiêu chữ thì con cũng lớn ngang ni thôi, không cao hơn được mô”. Lúc đó tau giận lắm. Sau này, nghĩ lại, hắn nói cũng có lý, mỗi người có một phận số, có cái nghiệp của mình, con mình có cái nghiệp của hắn, mình không gánh thay cho hắn được. À, mà thiệt ra hắn có phải là con mình đời đời kiếp kiếp mô. Hắn chỉ ghé qua trú ở nhà mình một kiếp trong cuộc luân hồi mà thôi.
Tạo nhấp một hớp trà, nói tiếp:
Còn như cái nghiệp của mình là ri đây, làm ăn lớn rồi cuối cùng trở về với gánh cơm hến – nghiệp nhà từ đời trước. Th@nhdalat à, từ khi nghe câu nói của ông thầy cúng, tau như tỉnh cơn mê, tau buông bỏ được nhiều thứ. Bây chừ tụi bay thấy đó, gánh cơm hến của nhà tau đông vui không? Cơm hến “Tạo phế liệu” bắt đầu nổi tiếng rồi đó, ha ha ha…
Giọng cười sảng khoái vang lên, nụ cười tươi sáng nở trên khuôn mặt Tạo, khuôn mặt bình an và đẹp trong nắng trưa. Những nếp nhăn trên trán Tạo bớt hắn đi.

Tui mừng cho bạn đã tìm được an lạc bởi một câu nói hợp với căn duyên của mình. Nhưng con đường đến an lạc đâu chỉ có một. Con đường của Tạo không phải là con đường của tui, tui vẫn mãi đi tìm…
              Photobucket
thanhdalat
31.8.2010
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------
Cơm hến đây nì
Ý kiến của một blogger về cơm hến nhà "Tạo-phế -liệu": 
Cảm nhận vị ngọt của nước hến thấm dần đầu lưỡi, chất béo hến lan toả trong miệng, vị thơm lừng của nhóm rau thơm nồng dâng lên mũi, vị dòn rụm của đậu phộng cộng thêm vị cay xé của ớt huế thấm đượm đầu môi. (NYhttp://vn.360plus.

Các bạn muốn thưởng thức một đoại cơm hến thiệt sự và các món Huế khác, xin mời đến quán Cố Đô của Butsref .http://vn.360plus.yahoo.com/butsref
*

23 thg 8, 2010

Mấy ngày nghỉ hè ở Huế - 2 - MỘT NGÀY CỦA MẠ

Một ngày của mạ

1.
Buổi sáng, lúc mấy đứa con lớn đầu của mạ (1) còn đang cuốn mùng, đã thấy mạ ra mở quán. Cái quán tạp hóa nhỏ trong xóm nghèo lời lãi chẳng bao nhiêu nhưng giúp mạ có việc để tính toán, để loay hoay tới lui cho vui tuổi già. Mạ đi chậm thôi, mạ làm việc chậm thôi, nhưng khi đứa con lớn đầu này bước ra sân thì mạ đã sắp xếp xong các món hàng đâu vào đó rồi. Mạ ngồi têm trầu rồi nhai bỏm bẻm, vẻ như đang ngóng chờ. Mạ ngóng chờ chi sáng sớm? Lúc này đã có ai mua hàng đâu? Tui giúp mạ treo tấm vải bạt che nắng. Lâu lắm mới về nhà, làm siêng một chút chứ bao nhiêu ngày nắng mưa mạ tự loay hoay làm hết trong khi o Hiệp còn phải đi chợ, chạy hàng và làm mấy việc khác.
-Ai canh khô ô ô ô…….ng!
Đôi mắt mạ sáng lên. Mạ không phải gọi vì o bánh canh quen rồi, hễ thấy ánh nhìn của mạ là đặt gánh hàng xuống hiên trước của quán. Cũng như phần nhiều gánh hàng ăn sáng ở Huế, gánh bánh canh o ni là từ bên làng Thủy Dương (bên kia sông An Cựu, ngoại ô thành phố Huế) gánh qua thành nội. Thường thì người dân Huế ăn sáng chỉ một đoại(2) 2000đ là đủ. Vậy mà mạ gọi một đoại đến 4000đ. Mạ gọi tui vào. “Ăn đi , bánh canh o ni mi thích đó!”
Ui trời, mạ nhớ dai dữ. Đúng là năm ngoái, năm tê chi đó, một lần ăn bánh canh tui có nói với mạ : “Bánh canh ai nấu mà ngon thiệt!” Rứa đó mà sáng nay mạ ra quán sớm ngóng đợi o bánh canh ni, để gọi cho tui một đoại đặc biệt!
Đoại bánh canh quê nhà sáng ni ngon quá, bởi vì trong đó có một thứ gia vị tuyệt vời: tình mẹ!

2.
Buổi trưa oi nồng, quán tạp hóa khép cửa, mạ vào nhà  nằm nghỉ. Lúc cả nhà đang thiu thiu thì nghe tiếng gọi từ ngoài ngõ.
-Bán cho 500 đồng nước đá, 500 đồng kẹo.
Tui dợm dậy nhìn qua, mạ cũng đang ngồi dậy huơ huơ chân tìm đôi dép.
-Thôi lựng (3) mạ. Mua có mấy trăm đồng mà dậy chi cho mệt rứa!
-Mi cứ ngủ trưa đi, kệ tau. Người ta cần thì cũng như mình cần rứa, ra bán cả (kẻo) tội.
Cả tội! Mấy tiếng này tôi nghe mạ nói hoài. Tui còn nhớ kỳ phép hè năm kia, ngồi than phiền với mạ, bằng một giọng hậm hực, về một người cùng làng tha phương biệt dạng cả chục năm, bỗng một hôm lên Dalat tìm thăm, hàn huyên tâm sự chuyện làng nước họ hàng , khi từ giã có hỏi mượn tiền, nói ra ngoài nhà trả ngay. Thế mà đã nhiều năm rồi không nghe nói năng chi. Nghe tui nói xong, mạ ngồi thừ ra, rồi nói , giọng buồn buồn, thương xót:
-Rứa à, chắc ông nớ đói lắm. Người ta khổ lắm mới làm rứa con à. Tội nghiệp, tội nghiệp!
“Cả tội!” Mấy tiếng ni khiến tui không nói năng chi thêm được, bèn ra phụ mạ chặt nước đá, còn mạ lấy kẹo đưa cho thằng bé. Thằng bé tóc cháy nắng, chỉ mặc độc cái quần xà lỏn, hở cả rốn, trông thiệt dễ thương. Tui nghĩ thầm: mình cố nhớ 500 đồng là mấy cái kẹo để khi khác bán giùm cho mạ để mạ yên giấc trưa. (vậy mà suốt kỳ nghỉ hè tui có nhớ được chi mô, hàng tạp hóa cả trăm thứ linh tinh không làm răng nhớ hết).
Thằng bé gật đầu chào mạ “Con về mệ hí!”(4) rồi dợm chân một cái chạy vèo. Không đưa tiền. Mạ cười :” Chạy chậm cả bổ (té). Thằng cha mi, xớn xớn xác xác!”(5)
Rứa đó. Bán hàng chịu mà. Không sổ sách chi cả, rứa mà mạ nhớ hết mới tài!
Có lần tui lấy cuốn tập, làm tài lanh hỏi mạ mua chi, bán chi,…kẻ dọc mấy cột, kẻ ngang mấy dòng, ghi vào ra bộ “khoa học, kỹ thuật” lắm. Nhưng đúng là tài lanh thôi. Mạ không dùng , rồi mọi việc vẫn đâu vào đó theo cách tính dân gian lâu đời của mạ.
Nhưng hè năm nay đã có một chuyện làm tui không an lòng.
Một buổi trưa, lúc tui đang ngồi trông quán cho mạ một lát để mạ vào làm bếp thì có người khách ghé vào, hỏi mệ ở mô, rồi đưa cho tui 5 000 đ, bảo : "Mệ thối tiền nhầm." Ui, mạ đã nhớ nhầm thì có nghĩa là mạ đã già yếu hơn trước rồi.
Tui rưng rưng nước mắt.
3.
Đêm World cup này, không đi qua nhà ông bạn hàng xóm để cùng xem, tui lọ mọ dậy ngồi coi một mình. Tui vặn volume thật nhỏ và ngồi gần màn hình để xem. Căn nhà rường cổ xưa vốn chật hẹp nên khó cản được âm thanh của trận cầu sôi động vang trong nhà, lại thêm tiếng kèn Vuvuzela rền rĩ suốt trận đấu nữa chứ! Tôi ngồi coi được gần một hiệp thì nghe có tiếng dép lệt xệt. Mạ đi xuống bếp. Tui áy náy hết sức, muốn tắt Tivi đi ngủ nhưng trận cầu đang có những tình huống hấp dẫn nên cố nán cho hết hiệp một. Khi hiệp một kết thúc, định tắt Ti vi thì nghe tiếng mạ nói:
-Ăn chút mì cho khỏe con.
Tui bổng cáu gắt:
-Chao ôi là mạ! Mặc con, con có đói mô. Răng mạ dậy làm chi cho khổ rứa!
-Tau thấy mi ngồi coi một mình tội tau nấu cho đoại mì đó. Mi thiệt khó chịu!
Ánh mắt từ ái của mạ đang nhìn tôi làm tui cảm thấy ân hận vì đã cáu gắt với mạ. Tôi cầm đũa lên.
-Con ăn đây. Thôi mạ vô ngủ đi.
Chợt nhớ một chuyện , tui hỏi :
-Bàn chân của mạ răng rồi?
-Đi lại được như thường rồi con à.
-Con biết, nhưng còn đau nhức chi không?
-Hết đau rồi con.
Mấy tháng trước, ở Dalat tui đã nghe tin: mạ bị vấp ngã gãy xương bàn chân, chỗ gần các ngón. Phải đăng bột cả tháng mới lành. Vậy mà từ hôm về nhà đến giờ tui không nghĩ đến, mà mạ thì cứ lo lắng cho tui từng tí, cứ như tui vẫn còn là thằng bé trong vòng tay mạ.
Tôi bật đèn lên coi bàn chân mạ. Bàn chân đã lành lặn, chỉ còn một vạch sẹo trắng chạy ngang. Thật là ơn phước. Thường thì người già bị gãy xương rất khó lành, nếu may mắn cũng phải hai tháng mới đi lại được, còn mạ thì mới đăng bột hơn một tháng đã đòi tháo bột vì thấy khó chịu, bực bội. Chìu mạ, chú Mừng đã xẻ tháo bột ra. Vui thay, mạ đi lại được gần như bình thường. Tui nghĩ thầm, mạ sống có đức nên trời thương.
Giờ đây tui lại sống xa mạ, nghĩ về mạ lòng ngùi ngùi. Nhưng tui biết mạ còn lo lắng cho tui nhiều hơn.
Vài hôm nữa mùa Vu Lan về, sung sướng biết bao, tui sẽ lại đến chùa để được các em Oanh Vũ cài lên ngực đóa hoa hồng thắm.
 
thanhdalat
Mùa Vu Lan 2010
Chú thích một số tiếng Huế dùng trong bài viết:
(1)   Mạ : mẹ
(2)   Đoại : tô
(3)   Lựng : lận, mà.
(4)   Mệ: Bà nội hay bà ngoại.
(5)   Xớn xác : hấp tấp, vội vàng.

19 thg 8, 2010

Mấy ngày nghỉ hè ở Huế . 1 ĐI CÂU CÁ

ĐI CÂU CÁ

-Lên xe. Coi chừng mất con mã!
-Mã giao chân . Coi chừng chiếu tướng bắt xe nghe.
Trong những ngày nghỉ hè ở Huế , hầu như chiều nào tui và anh Bút, ông giáo hàng xóm vừa nghỉ hưu, cũng tránh cái nóng bằng cách để hết tâm trí vào bàn cờ tướng. Nắng nóng gần 40 độ C nhưng có gió nồm nên không quá khó chịu cho “người-Dalat” . Chúng tui ngồi đánh cờ dưới tàng cây đào rậm lá, thỉnh thoảng có làn gió từ phía hồ Tịnh Tâm thổi qua mát rượi . Ngồi đánh cờ tuy có tập trung suy nghĩ từng nước cờ qua lại nhưng miệng vẫn có thể nói đủ chuyện trên đời mà không ảnh hưởng mấy đến chất lượng ván cờ. Sau khi đặt con pháo xuống một vị trí tấn công lợi hại, anh Bút khe khẻ ngâm:
Một mai một cuốc một cần câu
 Thơ thẩn dù ai vui thú nào.
Vừa lúc anh Bút hạ chữ “nào” thì tui cũng vừa nghĩ xong nước cờ hiểm, tui gõ con cờ một tiếng cộp vào lưng con mã của anh Bút. Thế là tui đã có lợi thế hơn quân.
-Ui chao! –anh Bút kêu lên tiếc nuối.
Nhưng không lâu sau đó, anh Bút ăn lại con pháo của tui. Anh lại cất giọng:
Ôm cần ngồi lại ven sông
Được không không được có hòng chi đâu.
Từ trong sâu thẳm thẳm sâu,
Niềm vui chợt đến nỗi sầu vơi đi.
-Thơ của ai mà hay vậy anh Bút?
-Hay chi mô. Lúc ngồi câu rảnh rỗi mình ngâm đại mà ra rứa thôi.
-Anh cũng đi câu à! Xưa nay thấy anh hễ ra khỏi nhà là áo đóng thùng nghiêm chỉnh thôi mà.
-Nghỉ hưu rồi thì tìm cách tiêu khiển chơ. Muốn đi câu chiều đi với anh.
-Đi chớ răng không! À , mà anh đọc lại mấy câu thơ tui ghi.
Thế là tự dưng bàn cờ bị bỏ quên vì thơ và chuyện câu cá. Có hề chi! Đánh cờ chỉ để trốn nắng nóng thôi mà. Được không không được có hòng chi đâu.


Buổi chiều khoảng 4 giờ, tui theo anh Bút , mỗi người một chiếc xe đạp, đến ven một con sông ở Hương Hồ. Anh Bút chọn một chỗ ngồi câu quen thuộc, tui tìm một chỗ khác không cách xa lắm, đủ để nghe anh ngâm thơ hoặc kể chuyện tiếu lâm trong khi câu. Ngồi thu lu bên bờ nước, mắt chăm chăm nhìn phao câu, một chấm trắng nhấp nhô theo sóng gợn. Có con chuồn chuồn kim vờn bay trên cái phao như chiếc trực thăng , thỉnh thoảng đậu xuống một tí làm lan ra một vòng sóng nhẹ. Buổi chiều êm ắng. Mấy đám mây trắng như bông lững lờ trên nền trời xanh thẳm. Thật lâu không thấy ai câu được cá, chỉ thấy thỉnh thoảng nhắc cần câu lên thay mồi.
Bổng một giọng ề à ngân lên từ một lùm bụi nào đó:
Xách giỏ lên câu đến thạch bàn.
Cá không ăn mồi ta vẫn ngồi khan.
Có ai xem giỏ cười không cá,
Không cá mà ta đặng chữ nhàn.
Tất nhiên không phải anh Bút ngâm, nhưng cái tĩnh tại, thư thái theo giọng ngâm lan ra bao trùm cả một khoảng sông thì cũng như giọng anh Bút vẫn ngân nga mỗi lúc cao hứng.
Tui cũng như lây cái tâm trạng đó, lòng bình an, thanh thản. Bỗng nhớ mấy câu thơ hình như của thy sỹ Bùi Giáng, tuy nội dung không nói về câu cá, tui cũng khinh khoái cất giọng:
Xách giỏ cầm mác
Vào núi hái sim
Bên triền bát ngát
Ta nhảy như chim.
Khi trời sẩm tối , chúng tôi ra về với lòng nhẹ tênh, với những giỏ đựng cá cũng nhẹ tênh. Một vài con cá câu được, chúng tôi thả hết xuống sông, cho nó tung tăng trở về nhà.

Một tháng nghỉ hè của tui ở quê nhà cũng trôi qua tương tự như thế.
Tạm quên đi những mục tiêu ngắn và dài, tạm quên đi những viêc cần làm ngay và những việc cần làm trong tuần, trong tháng, tôi đã có những ngày vô tư lự, không mưu cầu một điều chi. Những ngày bình an, có thể coi là hạnh phúc.
Đó là những ngày hiếm hoi trong cuộc đời mà tui có thể ngâm nga
Được không không được có hòng chi đâu.

thanhdalat
Cuối tháng 7.2010

4 thg 8, 2010

NHỮNG THÀNH PHỐ BUỒN. *thanhdalat


Một người bạn quê quán ở Huế, nhưng sinh trưởng tại Đà Lạt , dịp Tết năm nay là lần đầu tiên về thăm quê, khi vào cảm khái:
-Huế đẹp nhưng buồn quá. Buồn không chịu nổi!
-Sao lại nói thế?
-Buổi chiều đi qua Thiên Mụ, nhìn lên cái tháp rêu phong, rồi nhìn xuống dòng Hương lặng lờ buồn chịu không xiết. Vào Đại Nội thì chỉ thấy những bức tường nâu cũ, câm lặng,…thê lương quá!
-Cả đời ông sống ở Đà Lạt quá quen cái buồn của những“đường quanh co bên gốc thông già” rồi, sao lại còn than buồn khi đến thành phố khác nhỉ?
-Mình thấy Đà Lạt vậy mà còn vui hơn Huế!
Thật không hiểu nổi ông bạn. Không hiểu sao ông bạn lại thi sĩ thế không biết. Mình vốn đa cảm, và tuy không là thi sĩ nhưng cũng có tâm hồn thi nhân thứ thiệt (sic), hè nào cũng về Huế ở cả tháng mà đâu có thấy Huế buồn “chịu không nổi” như ông bạn than vãn đâu. Huế dạo này đông dân, sinh hoạt cũng khá là nhộn nhịp đấy chứ.
Chỉ sợ cái vẻ trầm mặc của Huế mất dần đi và Đà Lạt vắng bóng “những con đường mù sương giăng mắc”thôi!
**
Nhưng lời nói của ông bạn đã bám riết tâm tư của mình. Thành phố buồn có giá trị gì cho con người không?
Huế buồn, Đà Lạt buồn mà răng mình lại yêu hai thành phố nớ như rứa hè! Vào Đà Lạt thì nhớ sông Hương, núi Ngự mà ra Huế thì nhớ đồi Cù và tiếng thông ngàn. Còn các bạn thì sao? Có phải than buồn “chịu không xiết” khi đến Đà lạt và Huế không?
Có những khu dân cư mà cảnh vật trông buồn thê thiết thật.Đó là những  thị trấn xa xôi, hẻo lánh, những ga xép tỉnh lẻ. Nhưng cũng có những thành phố …buồn. Đó là những thành phố cũ, ngày xưa phồn thịnh nhưng do những đổi thay của thời thế , sự sa sút về phương diện kinh tế mà nay tàn tạ thì trông cũng thê lương , ảm đạm lắm. Khách phương xa có dịp đi qua không khỏi bùi ngùi, và buồn bã. Tôi từng nghe những người bạn- dân Quảng Trị nói như thế về thành phố quê hương của họ. Tuy nhiên, có những thành phố mà nét buồn lặng  của nó là cần thiết, là nên thơ. Đó là những cố đô với những công trình kiến trúc cổ, vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị thẩm mỹ, đó là những thị trấn, thành phố tuy ở những miền rừng núi xa xôi nhưng phong cảnh nên thơ, hữu tình. Như Huế và Hội An, như Đà Lạt, và Sapa ,… Bây giờ chúng ta hãy ghé qua thăm cố đô và thành phố sương mù một xí nhé.
Đến Huế là chúng ta đi vào một không gian xanh của cây lá, cây được trồng nhiều dọc hai bên đường, trong những khu vườn . Thành phố vườn là cái tên cho Huế. Trước mắt chúng ta ,dòng Hương giang trong xanh, lặng lờ và núi Ngự Bình  hiền hòa đã là cảm hứng cho bao nhiêu thi nhân.  Nhà thơ Thu Bồn hiểu cái hồn của Huế lắm khi viết
Con sông dùng dằng…con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.
Bùi Giáng thì triết lý bằng cái giọng rất Huế :
Dạ thưa phố Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
Hoàng thành với những bức tường nâu cũ, câm lặng kia khiến bạn tôi than buồn “chịu không xiết”, đã đem lại cho chúng ta những lời ca, câu thơ đầy cảm xúc:
 Hoàng Thành thơm ngát cỏ hoa
trắng dài một vạt trên tà áo bay


Ai qua Thành Nội chiều nay
cho tôi gửi giấc mộng gầy dáng xưa

                           (Huế buồn.Thơ Phạm Ngọc, nhạc Nhật Vũ)
Ai về qua Hương Giang
“gởi lòng tôi theo với”
ánh trăng treo Thành Nội
một góc trời quê hương
              (Mưa Cali nhớ Thành nội -Thơ Phạm Ngọc, nhạc Võ Tá Hân)
  Áo bay hay lá rơi vào nội.
Thương nhớ lòng theo mấy cửa thành.
                            (Chiều mưa uống rượu-Tần Hoài Dạ Vũ)
Và còn biết bao nhiêu bài ca về Huế mà mỗi lần nghe, tụi tui dân Huế tha hương lòng rưng rưng.
Rời đất thần kinh, chúng ta xuôi nam, đến Phan Rang , vượt đèo Ngoạn Mục là chúng ta đến gần với xứ lạnh rồi. Đà Lạt là thành phố, mà cái buồn đã thành danh. Thế mà, cũng như cố đô Huế, phố núi cao này là nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao bài thơ, câu hát. Ở Đà Lạt đã lâu mà tôi vẫn thấy lòng mênh mang mơ mộng mỗi khi nghe :
Lắng nghe chiều xuống
Thành phố mộng mơ…
Màu lam tím
Đà Lạt…sương phủ mờ,
Từng đôi đi trên phố vắng…
Nét buồn vắng của xứ lạnh đẹp biết bao, cần biết bao cho sự thăng hoa của tâm tình. Nếu ai đó đến với phố núi mà lòng còn xôn xao rộn ràng phố chợ thì hãy nghe Hàn Mặc Tử khẩn cầu:
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nước hồ reo,
Để nghe tơ liễu run trong gió.
Và để nghe trời  giải nghĩa yêu.
                                       (Đà Lạt trăng mờ)
 Không biết có nhầm không, tui thấy trong nước mình, Huế và Đà Lạt là hai thành phố mà ca khúc viết về nó đủ cho mấy dĩa nhạc!
Vậy đó, Huế và Đà Lạt là hai thành phố buồn! Ôi , cái buồn quý phái biết bao! Cái buồn nên thơ biết bao!
**


Vâng, Đà Lạt, Huế là những thành phố buồn, buồn mà đẹp. Cái đẹp của những thành phố cổ kính là ở sự yên tĩnh,ở những khoảng lặng ,ở dòng sông êm trôi, ở những tường thành trầm mặc rêu phong cổ độ. Nét thơ của thành phố trong rừng- rừng trong thành phố là  ở những hàng thông xanh bên đường, ở những thảm cỏ xanh êm mát,  ở mặt hồ phẳng lặng, những đồi dã quỳ hoang sơ ,…
Tôi không hề bi quan khi nghe ai đó than vãn rằng cố đô Huế buồn, Đà Lạt-thành phố sương mù buồn. Nhưng tôi sẽ não nề xiết bao nếu ai đó hân hoan bảo rằng cố đô Huế và xứ sương mù Đà Lạt bây giờ là những đô thị hiện đại, nhiều nhà cao tầng, đường phố nhộn nhịp, náo nhiệt.
Xin giữ lại cho tôi hồn cố đô và hồn phố núi!
 
thanhdalat
3/2009

31 thg 7, 2010

“GỞI HUẾ NGÀN NĂM”- khúc tâm tình của người Dalat nhớ Huế

Ai phải sống tha hương mà không đau đáu niềm nhớ  quê nhà. Có một người xa xứ nặng tình quê mà làm thơ hơn trăm bài vẫn chưa nguôi sầu nhớ. Đó là nhà thơ Việt Trang của phố núi.
Việt Trang tên thật là Phạm Gia Triếp, thiếu thời sống ở một ngôi làng nhỏ bên dòng sông An Cựu, học trung học tại trường Khải Định (nay là trường Quốc Học Huế), lên Dalat từ những năm năm mươi của thế kỷ hai mươi. Ông từ giã Huế từ một sớm đìu hiu tuổi hai mươi để làm con sơn ca bay ngược lên đỉnh núi Lang-Biang(1), làm thơ từ đó đến nay đã hơn ngàn bài, phấn lớn là thơ Đường luật, thường cùng các bạn thơ Phong Vũ , Cam Lĩnh - mà ông thường gọi là nhóm Trà Sơn, ngâm vịnh những lúc trà dư. Việt Trang có thơ đăng ở các báo và  tuyển tập trong nước (2). Ngoài những bài thơ viết về Dalat, ông còn viết tập “Địa phương chí Đà Lạt” (năm 1966).
Việt Trang là thi nhân nặng tình với hai quê. Vui buồn một đời với phố núi, nhưng cảnh đẹp của xứ hoa anh đào cùng hạnh phúc gia đình và tình bè bạn vẫn không làm nhà thơ nguôi nỗi nhớ quê xưa:
Ngày ngày với Trà Sơn(3)
Giữa buồn vui trôi nổi
Đêm đêm cùng cố hương
Mộng hồn không cát bụi
                                                        (Tha phương)
Trong tâm tình đó, Việt Trang đã viết rất nhiều bài thơ nói lên tâm sự của người con xa quê Huế, một phần nhỏ trong số đó được in thành tập “ Gởi Huế ngàn năm”. Tập thơ gồm 40 bài,
viết với nhiều thể thơ (thơ luật và thơ mới), phát hành nội bộ vào tháng 8/2004. Như nhan đề “Gởi Huế ngàn năm”, tập thơ là nỗi nhớ da diết, là lời ngợi ca cảnh đẹp quê mình trong trùng trùng cảm xúc.

*
Huế đẹp và thơ, đó là một câu nói quen thuộc và cô đọng dành cho Huế. Thơ Việt Trang đưa ta đến tận miền sông Hương núi Ngự để chỉ cho ta cái đẹp muôn màu của Huế. Đó là cảnh núi sông chìm trong nỗi nhớ nhung:
Núi Ngự hong buồn chao sợi nắng
Sông Hương trải nhớ vọng đôi bờ.
                                 (Nhớ kinh đô)
Ngự lĩnh đứng thầm chiều nắng lả
Hương giang trải mộng gió canh thâu.
                            (Chiều xuân kinh)

Núi Ngự Bình án ngữ ở phía nam Huế, độ cao chỉ khoảng 105 m, dáng hình thang cân, trông như một bức bình phong của thiên nhiên che mặt trước kinh thành; sông Hương “uốn một cánh cung rất nhẹ” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) khi đi qua chốn đế đô, dòng chảy chậm, nước trong xanh. Qua con mắt Việt Trang, núi Ngự có dáng “trầm tư”, “đứng trơ theo gió lạnh” và sông Hương “trầm mặc”, hoài chảy với sương vây”. Núi Ngự, sông Hương không chỉ là một sự vật để nhà thơ cảm nhận mà tự nó có nỗi niềm, nó  “hong buồn, trải mộng” như một chàng trai hay một cô gái đôi mươi giàu tình cảm, có khi lại “trầm mặc “như một ẩn sĩ.(4)
Nhưng dù nhìn theo góc độ nào, sông Hương và núi Ngự cũng đẹp, nét đẹp vượt thời gian:
Thành phố cũ nghĩ ngàn năm vẫn vậy
Một dòng sông một dáng núi thanh kỳ.
                              (Bụi Tha hương)
Cầu Trường Tiền bắc qua sông Hương là một cây cầu hiện đại và đẹp của một thời, “sáu vài mười hai nhịp” đã là những con số gợi cảm trong lòng người Huế từ lâu lắm (5). Việt Trang một lần “Lại về thăm Huế” , ông vui vì thấy “Vẫn chiếc cầu như trâm cài mái tóc”, chiếc cầu vẫn nguyên nét đẹp xưa, tô điểm cho con sông Hương trong xanh êm đềm như suối tóc của người con gái yêu kiều.
Huế đẹp không chỉ ở hình sông thế núi mà còn ở phố thị. Kim Long, Vĩ Giạ, Đông Ba , An Cựu ,…là những tên đất, tên vùng đã đi vào thơ ca từ lâu. Kim Long có gái mỹ miều. Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi/ Núi Ngự Bình trước tròn sau méo, Sông An Cựu nắng đục mưa trong. Qua “Gởi Huế Ngàn Năm”, ta sẽ thấy một vẻ đẹp khác:
Đường qua Vĩ Giạ một chiều
Chói chang con nắng đuổi theo sầu hoài
Trở về An Cựu mình ai
Đường trơ sỏi đá trải dài lá khô.
                               (Tháng tư phố Huế).
Mùa đông dù khắc nghiệt, cũng có một nét đẹp tiêu sơ :
Cây sầu đông gầy guộc bên đường
Ôi Huế tàn đông lạnh thấu xương.
                                (Về Huế)
Cảnh thu tàn thê thiết được miêu tả như một bức tranh xưa:
Ngõ trúc nhà ai vừa vội khép
Bên trời mây tím dạt lê thê.
                                 (Huế tàn thu)
Với nét bút đơn sơ, mềm mại, Việt Trang khắc họa một Huế chứa chan tình người.
*
Huế trong thơ Việt Trang còn là Huế của tình tri âm, của niềm thương nỗi nhớ ruột rà thân thiết.
Thi nhân xem quê hương mình như một người bạn. Huế - Việt Trang là hai người bạn tâm tình gắn bó, sự gắn bó hai chiều. Nếu Việt Trang có lòng với Huế sâu nặng :Tâm tư khép mộng tha phương / Xin cùng với Huế vấn vương trọn đời thì đáp lại Huế cũng nặng tình với người con xa xứ như thế. Nhà thơ tâm sự: Và tôi là cánh chim di/ Tôi về Huế đón tôi đi Huế buồn.(Bài thơ gởi Huế).
Tình đất tình người gắn bó luôn là mạch nguồn của thi ca, huống chi Huế “đẹp và thơ”. Nhạc sĩ Văn Cao đã bày tỏ : Huế là một nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 40. Thơ và nhạc là điều tôi tìm từ nguồn ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của Cố Đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo”. Với Việt Trang, Huế còn là người bạn thơ, người bạn tri âm. Hãy nghe ông thì thầm :
Tiếng thơ người gởi cho tôi
Tiếng  thơ tôi gởi cho người thiết tha.
                                                                (Bài thơ gởi Huế)
Tình yêu của nhà thơ không dành cho riêng một cảnh đẹp nào, nó chan hòa, tràn ngập khắp cả cố đô
Lòng bâng khuâng mãi nhìn đây đó
Trao gởi khắp cùng nỗi mến thương
                               (Và dấu chim di)

Thật ít thấy cái tình quê hương sống động, thắm thiết – như đôi tình nhân như thế.

*

Càng thương bao nhiêu, khi phải xa cách nỗi nhớ càng sâu đậm. Ngày lên đường , mới đưa tay từ biệt , thế mà
Chưa chi gió nhuộm thu sầu
Mà nghe sương khói xanh màu biệt ly.
                                (Bài thơ tạm biệt)
Nói tạm biệt nhưng thật ra là xa vời vợi. Đường sá xa xôi, chiến tranh kéo dài, thời cuộc nhiều biến động làm cho đường về xa lắc, nỗi nhớ trong lòng người xa xứ càng thêm da diết .
Ngày tháng tha hương nỗi sầu quay quắt
Giọt mưa sa chưa trở lại cội nguồn
Hai mươi năm không về thăm Huế được
Như một loài chim xa lánh cố hương.
                                 (Gởi Huế ngàn năm)
Người tha hương tự ví mình Như người con gái sang ngang / Vườn sau đứng lặng một phương quê mình.(Bài thơ gởi Huế). Thương biết mấy cái dáng người “đứng lặng vườn sau” trông vời cố quận!
Có khi trên đường dài, như hạt “ Bụi tha hương”, thoảng nghe một câu hò thân quen cất lên đâu đó khiến lòng nao nao, Việt Trang tự hỏi lòng: Có thể nào không tha thiết tình quê / Nghe bất chợt vọng câu hò mái đẩy? Nỗi nhớ quê cũ luôn canh cánh bên lòng người xa xứ, tràn ngập không gian, vương vấn trong mỗi phút giây. Có lúc thi nhân phải tìm cách trốn tránh nỗi sầu xa xứ trào dâng trong lòng mình.
Buồn vui chất chở sao vừa
Quê xưa ngàn dặm mịt mờ vờ quên.
                                  (Nhớ Huế)
Cái vẻ “vờ quên” ấy trông sao mà xót xa!

*

“Gởi Huế Ngàn Năm” còn cho ta thấy nỗi niềm tâm sự , những ngậm ngùi riêng của một con người phải sống kiếp ly hương . Đó là những lời tự thán cảm động, là khát khao “quy hồi cố quận” cháy bỏng.
Ngoảnh lại Lâm Viên mờ gió lạnh
Trông vời cố quận thoáng mây giăng
Thân không bèo bọt mà trôi nổi
Đời lắm sông hồ lắm trở trăn.
                                     (Đường về quê)
Xin chào tất cả tôi đi
Nghĩ mình thân phận chim di một đời
                                      (Bài thơ tạm biệt)
Bóng mình soi bóng nước
Trong đục tới bao giờ
Dừng chân dòng sông cũ
Trên bến thơ chiều thơ.
                                    (Về Huế cuối mùa xuân)
Ngày về thành khách lạ
Ngày đi mang muộn phiền
Nghe hạt bụi Thừa Thiên
Vương làn tóc chóng bạc.
                                     (Khách lạ)

Tha hương thế cũng trọn một đời. Việt Trang rời Huế từ thuở hai mươi, đến nay ông đã ngoại bát tuần. Trong bấy  nhiêu năm xa quê ấy , không lúc nào ông không mong trở về:
Nhớ thương như muốn nghiêng trời đất
Nghe vạc kêu sương giục dặm về.
                                   (Nghe vạc kêu sương)
Ông tự hứa với mình:
Hẹn thăm lại với ân tình dĩ vãng
Bụi tha hương dẫu phủ kín đường về.
                                   (Bụi tha hương)
Tâm nguyện trở về day dứt trong lòng ông, tâm nguyện của cả một đời:
Ngàn năm máu dội về tim
Trăm năm tôi nguyện tìm về cố hương.
                                    (Bài thơ gởi Huế)

***

Kết thúc tập thơ là bốn câu thơ không đề, gói trọn tâm tư của tác giả, cũng là lời hứa sắt son, như một lời trăng trối:
Bước tha phương khi tuổi còn rất trẻ
Để trọn đời mang Huế nặng trong tim
Nếu một mai khi giã từ cõi thế,
Tìm cố hương xin nguyện hóa thành chim.
Cuối tháng bảy năm nay, trong những ngày Dalat mưa dầm, Việt Trang đã rời bỏ người thân, rời bỏ bạn bè . Con chim sơn ca “bay ngược lên đỉnh núi LangBiang” năm xưa cất giọng thiết tha “GỞI HUẾ NGÀN NĂM”, “trọn đời mang nặng Huế trong tim” nay chắc đã bay về với miền Hương Ngự thương yêu như ước nguyện thưở sinh thời. Những lời thơ thiết tha của Việt Trang đối với quê Huế đã ngừng lại, nhưng tiếng thơ chắc hẳn còn ngân trong lòng những người con đất cố đô tha hương, bởi thi nhân đã nói thay tâm tình của họ bằng cả trái tim mình.

thanhdalat
31/7/2010

(1) Trích từ bài thơ “Gởi Huế nghìn năm” và “Vẫy gọi xuân về”.
(2)Tuyển thơ:”Mười năm thơ Đường 1990 – 2000” (nxb Văn hóa dân tộc); “Trăng nước Hương Giang” , (nxb Thuận Hóa, 1993, 2000, 2005, 2007) ; “Trăng Thương Bạc” –Chào mừng Festival Huế (nxb Thuận Hóa. 2002). Tiểu luận văn học:“Ai tri âm đó” –,  Như Anh biên soạn (nxb Văn nghệ tp Hồ Chí Minh, 1997). Báo “Bút Xưa”,..
(3) Trà Sơn (núi trà): Việt Trang thường dùng để chỉ vùng cao nguyên Lâm Đồng .
(4) Trích : “Về thăm Huế”, “Rong chơi cọng khói.”
     (5) Hò mái nhì :          
                                         Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Em theo không kịp
Tội lắm  anh ơi!
Bấy lâu mang tiếng chịu lời
Anh có xa em đi nữa
Cũng tại ông Trời nên xa.

10 thg 6, 2010

Dalat vào hè (thơ thanhdalat)

Mưa nhòa con dốc quanh
   Mưa nhòa con phố quạnh
   Một chiếc xe ngựa vội
Dầm mưa nhòa ruổi nhanh
**
Góc quán chiều lặng lẽ
    Ghế bàn im nghe mưa
   Cơn mưa chiều phố núi
Đã vây kín lối về...
**
Khói thuốc vờn hiên tối
Quẩn quanh chiều quẩn quanh
Bước đi hoài không tới
   Ôi mưa, thôi cũng đành...
**
    Cuồng chân hoài phố nhỏ
  Lòng vọng nỗi đường xa
Làm sao rời mái hẹp
Cũng đành thôi...ôi mưa...

thanhdalat
  (mưa xưa)